Công dụng của Hà thủ ô trắng (Radix Streptocauli Juventatis)

Hà thủ ô trắng (Radix Streptocauli Juventatis)

HÀ THỦ Ô TRẮNG

Radix Streptocauli Juventatis

1. Tên khoa học: Streptocaulon juventas Merr.

2. Họ:Thiên lý (Asclepiadaceae).

3. Tên khác: Hà thủ ô nam, củ vú bò, dây sữa bò, dây mốc, cây sừng bò, cây đa lông, mã liên an, khau cần cà (Tày), chừa ma sìn (Thái), dây mốc, xạ ú pẹ (Dao).

4. Mô tả:

Dây leo bằng thân quấn dài 2-5m. Vỏ thân màu nâu đỏ, có nhiều lông mịn. Lá mọc đối, phiến lá nguyên, hình bầu dục, chóp lá nhọn, gốc lá tròn, dài 4-14cm, rộng 2-9cm. Hoa nhỏ, màu lục vàng nhạt, mọc thành xim ở nách lá. Quả gồm 2 đại xếp ngang ra hai bên trông như đôi sừng bò. Hạt dẹt mang một mào lông mịn. Toàn cây có nhựa mủ màu trắng như sữa. 

5. Phân bố:

Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta.

6. Trồng trọt:

Hà thủ ô trắng có khả năng thích nghi với nhiều loại đát và chịu hạn giỏi. Có được đặc điểm trên, có thể một phần do cây có nhiều lông nên chịu được điều kiện khô hạn và tránh bốc hơi, phần khác do cây có bộ rễ dạng củ ăn sâu dưới đất. Trong trường hợp cây bị đốt hoặc chặt phá, phần còn sót lại trong đất khi gặp mưa ẩm đều có khả năng tái sinh. Nguồn Hà thủ ô trắng ở nước ta rất phong phú, việc khai thác sử dụng làm thuốc còn rất hạn chế.

Khả năng phát triển vùng chuyên canh: Có khả năng phát triển trồng ở các vùng chuyên canh

7. Bộ phận dùng:

Thân rễ phơi hay sấy khô của cây Hà thủ ô trắng (Streptocaulon juventas Merr.).8. Thu hái, chế biến:

Thu hái rễ củ quanh năm. Rễ đào về, rửa sạch, thái lát dày khoảng 3cm, phơi hay sấy khô. Có thể ngâm nước vo gạo một đêm trước khi phơi hay sấy khô.

9.Thành phần hóa học:

Thân rễ  có tinh bột, nhựa đắng, tanin pyrogalic.

10. Công năng:

Bổ huyết; bổ can và thận.

11. Công dụng:

Thường dùng chữa thiếu máu, thận gan yếu, thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém, sốt rét kinh niên, phong thấp tê bại, đau nhức gân xương, kinh nguyệt không đều, bạch đới, ỉa ra máu, trừ nọc rắn cắn, bạc tóc sớm, bệnh ngoài da mẩn ngứa. Có nơi còn dùng củ và thân lá của cây để chữa cảm sốt, cảm nắng, sốt rét. Có người còn dùng dây sắc lấy nước cho phụ nữ sinh đẻ thiếu sữa uống cho có thêm sữa. Cây lá cũng được dùng đun nước tắm và rửa để chữa lở ngứa. Người ta còn dùng củ chữa cơn đau dạ dày.

12. Cách dùng, liều lượng:

Thường dùng mỗi ngày 12-20g dạng thuốc sắc. Có thể nấu cao hay ngâm rượu uống. Cành lá dùng với liều lượng nhiều hơn. Người ta cũng thường chế Hà thủ ô trắng cũng như Hà thủ ô đỏ.

13. Bài thuốc:

13.1. Bồi dưỡng cơ thể, tăng cường sức lực, chữa đau lưng mỏi gối; giúp ăn ngủ được: Đậu đen 50g, Đậu đỏ 10g, Đỗ trọng dây 50g, Ráng bay 15g, Củ sen 50g, Bố chính sâm 15g, Hà thủ ô trắng (sao muối) 50g, Phục linh 15g. Các vị hiệp chung, tán làm viên hoàn, mỗi lần uống 3g, ngày uống 3 lần. (Kinh nghiệm ở An Giang).

13.2. Bổ khí huyết, mạnh gân cốt: Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.

Kiêng kỵ:Không dùng Hà thủ ô trắng đối với người hư yếu, tạng lạnh, đồng thời kiêng ăn tiết canh lợn, cá, lươn, rau cải, hành tỏi.

 

Công dụng của Hành

Hành

1. Tên khoa học: Alium fistulosum L.

2. Họ:Hành (Liliaceae).

3. Tên khác: Thông bạch, Hành hương, Hành hoa, Hom búa (Thái), Sông (Dao). English names: Japanese leek, Welsh onion, cibol, stone leek.

4. Mô tả:

Cây thảo sống nhiều năm, cao tới 50cm, có thân hành nhỏ, trắng hay nâu, chỉ hơi phồng, rộng 0,7-1,5cm. Lá màu xanh mốc, hình trụ rỗng, có 3 cạnh ở dưới, dài đến 30cm, có bẹ lá dài bằng 1/4 phiến. Cán hoa (trục mang cụm hoa) cao bằng lá. Cụm hoa hình đầu tròn, gồm nhiều hoa có cuống ngắn; bao hoa có các mảnh hình trái xoan nhọn màu trắng có sọc xanh; bầu xanh đợt. Quả nang. Cây ra hoa vào mùa xuân, mùa hè.

5. Phân bố:

Cây được trồng khắp nơi làm gia vị và làm thuốc.

6. Trồng trọt:

Trồng trên khắp các đồng ruộng.

7. Bộ phận dùng:

Cả cây

8. Thu hái, chế biến:

Thu hái quanh năm. Khi dùng củ hành, bóc lớp vỏ ngoài, nhặt hết rễ; rửa sạch. Thường dùng tươi.

9. Bộ phận dùng:

Củ (dò) hoặc toàn cây – Bulbus seu Herba Allii; thường có tên là Thông; có khi dùng cả hạt, Thông tử.

10. Thành phần hoá học:

Củ hành chứa tinh dầu có sulfur mà thành phần chủ yếu là chất kháng sinh alliin. Còn có acid malic và các acid khác, galantin và chất allisulfit. Hạt chứa S-propenyl-L-eine sulfoxide.

11. Công năng:

Phát hãn (làm ra mồ hôi) lợi tiểu, tiêu viêm.

12. Công dụng:

Làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, chữa tê thấp, chữa cảm mạo, nhức đầu…

13. Cách dùng, liều lượng:

Mỗi lần có thể dùng 30-60g dùng dạng nước sắc hay ép lấy nước uống.

14. Bài thuốc:

14.1. Cảm mạo, nhức đầu, nghẹt mũi: Củ Hành tươi 30g, Gừng 10g sắc uống. Có thể thêm Chè hương 10g nấu nước uống khi còn đang nóng. Đắp chân cho ra mồ hôi. Có thể kết hợp dùng Hành sống 3 củ, Gừng 3 lát với Tía tô 10g thêm ít muối hoặc có thể thêm một quả trứng gà gia vào bát cháo nóng để ăn giải cảm.
14.2. Giảm niệu: Giã Hành đắp vào rốn.

14.3. Nghẽn ruột do giun đũa: Hành củ 30g nghiền ra với 30g dầu vừng và uống, mỗi ngày 2 lần.

14.4. Eczema, phát ban, loét ở chân: Hành tươi giã nát, cho nước đun sôi để rửa các phần đau, tuỳ theo kích thước của phần nhiễm bệnh mà dùng lượng hành nhiều hay ít.

14.5. Viêm mũi, nghẹt mũi: Dầm vài ba củ Hành để vào ly, chế nước sôi vào, trùm hoa giấy lên, hít vào mũi. Hoặc dùng nước Hành pha loãng nhỏ mũi.
14.6. Chữa bệnh tê thấp: Cho muối vào hành, thêm ít tương đậu nành, xào với dầu thực vật để ăn.

 

Công dụng của HÀ THỦ Ô ĐỎ (Radix Fallopiae multiflorae)

HÀ THỦ Ô ĐỎ (Radix Fallopiae multiflorae)

1. Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson = Polygonum multiflorum Thunb.).

2. Họ:Rau răm (Polygonaceae).

3. Tên khác:Dạ hợp, giao đằng, thủ ô, địa tinh, khua lình (Thái), mằn năng ón (Tày), xạ ú sí (Dao)

4. Mô tả:

Cây: Dây leo, sống nhiều năm. Thân rễ phồng thành củ. Thân quấn, mọc xoắn vào nhau, mặt ngoài thân có màu xanh tía, nhẵn, có vân. Lá mọc so le, có cuống dài. Phiến lá hình tim, dài 4 – 8cm, rộng 2,5 – 5cm, đầu nhọn, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, cả hạị mặt đều nhẵn. Bẹ chìa mỏng, màu nâu nhạt, ôm lấy thân. Hoa tự chùm nhiều nhánh. Hoa nhỏ, đường kính 2mm, mọc cách xa nhau ở kẽ những lá bắc ngắn, mỏng. Bao hoa màu trắng, 8 nhụy (trong số đó có 3 nhụy hơi dài hơn). Bầu hoa có 3 cạnh, 3 vòi ngắn rời nhau. Đầu nhụy hình mào gà rủ xuống. Quả 3  góc, nhẵn bóng, đựng trong bao hoa còn lại, 3 bộ phận ngoài của bao hoa phát triển thành cánh rộng, mỏng, nguyên.

Dược liệu: Rễ củ hình tròn, dài, không đều, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi theo chiều dọc, hay chặt thành từng miếng to. Mặt ngoài có những chỗ lồi lõm do các nếp nhăn ăn sâu tạo thành. Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng màu nâu sẫm, mô mềm vỏ màu đỏ hồng, có nhiều bột, ở giữa có ít lõi gỗ. Vị chát.

5. Phân bố:

Cây mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình có số lượng ít hơn. Hiện nay, Hà thủ ô được trồng ở nhiều nơi vùng ở phía Bắc (Vĩnh Phú) và cả ở phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định.

6. Trồng trọt:

Hà thủ ô đỏ là cây mọc hoang ở những vùng có khí hậu mát mẻ quanh năm. Nhiệt độ thích hợp 20-25oC. Ở miền núi, có năm nhiệt độ xuống thấp về mùa đông, cây vẫn tồn tại trong đất. Lượng mưa trung bình năm 1500-1800mm, pH = 5-6,5. Đất cao ráo, ẩm, thoát nước.

Thời vụ trồng vào mùa thu (tháng 8-9) và mùa xuân (tháng 2-3). Vụ sau tốt hơn vì có mưa xuân, độ ẩm thích hợp, nhiệt độ vừa phải, cây chóng nẩy mầm.

Chọn đất cao ráo, thoát nước, tơi xốp, nhiều mùn, giàu chất dinh dưỡng. đất được cày bừa hay cuốc để ải, vơ sạch cỏ và rễ cây, đánh luống cao 25-30cm, rộng 30-40cm, nếu trồng 1 hàng như khoai lang, hoặc 70-80cm nếu trồng 2 hàng.

Hà thủ ô đỏ là cây cho củ, nên cần nhiều tro mùn, phân chuongf mục có thể bón lót 20-30 tấn/ha, không nên trồng chay. Thành phần chủ yếu gồm lân, kali, còn phân đạm để bón thúc cùng với phân chuồng, nước giải pha loãng vào tháng 4,5,6.

Có thể trồng bằng củ đường kính 3-5cm. Đặt mầm củ vào từng hốc, trên luống sau khi đã bón phân lót, rồi vùi đất cho thật chặt, khoảng cách 30-35cm. Tưới nước.

Có thể trồng bằng dây. Lấy các đoạn dây bánh tẻ cso nhiều đốt, hay các đoạn thân sát mặt đất có nhiều mầm. Cắt từng đoạn dài 30-40cm, đặt xuống rạc luống như trồng khoai lang với khoảng cách 30-35cm. Sau đó lấp đất ấn chặt, chỉ độ 1/2-1/3 dây thò lên mặt đất. Cách trồng bằng dây phổ biến hơn trồng bằng củ vì hết ít vốn, vận chuyển dễ, chóng thu hoạch và hệ số nhân giống cao. Hà thủ ô đỏ là dây leo, cho nên phải làm giàn. Hàng tháng, cần làm cỏ, xáo xới cho đất thoáng, tơi xốp, kết hợp với bón thúc như nước phân, nước giải, phân đạm pha loãng. Bón vào các tháng khi cây đang đẻ nhánh và phát triển như 2 tháng tuổi, 3 tháng tuổi và 5 tháng tuổi.

Trồng Hà thủ ô đỏ khoảng 2-3 năm là có thể thu hoạch. Nếu để quá lâu nhất là ở đất ruộng, củ dễ bị thối hỏng.

7. Bộ phận dùng:

Rễ củ phơi hay sấy khô của cây Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson).8. Thu hái, chế biến:

Thu hoạch vào mùa thu, khi lá khô úa, đào lấy củ cắt bỏ hai đầu, rửa sạch, củ to cắt thành miếng, phơi hay sấy khô. Nếu đồ chín rồi phơi thì tốt hơn.

Thu hoạch cây mọc hoang vào mùa thu. Thu hoạch cây trồng vào mùa đông khi cây đã tàn lụi. Đào về rửa sạch, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ ra, đồ rồi phơi hoặc sấy khô. Khi dùng nấu với nước đậu đen, có nhiều cách làm:

Đỗ đen giã nát cùng ngâm với hà thủ ô đã thái miếng trong một đêm, sáng ra đem đồ lên rồi phơi nắng, lại ngâm đỗ đen trong một đêm rồi lại đồ, phơi. Làm như vậy 9 lần (đông y gọi là cửu chưng cửu sái).

Củ hà thủ ô ngâm với nước vo gạo 24 giờ, rửa lại rồi cho vào nồi, cứ 10kg hà thủ ô, cho 100g đỗ đen và 2 lít nước. Nấu đến khi gần cạn, đảo luôn cho chín đều. Khi củ đã mềm, lấy ra bỏ lõi. Nếu còn nước đỗ đen thì tẩm phơi cho hết. Đồ, phơi được 9 lần là tốt nhất.

9. Thành phần hoá học:

Củ hà thủ ô chứa 1,7% anthraglycosid, trong đó có emodin, physcion, rhein, chrysophanol. 1,1% protid, 45,2% tinh bột, 3,1% lipid, 4,5% chất vô cơ, 26,45 các chất tan trong nước, lecitin, rhaponticin (rhapontin, ponticin).

Lúc chưa chế, hà thủ ô chứa 7,68% tanin, 0,25% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,8058% dẫn chất anthraquinon toàn phần. Sau khi chế, còn 3,82% tanin, 0,1127% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,2496% dẫn chất anthraquinon toàn phần.

10. Tác dụng dược lý:

10.1. Hà thủ ô có tác dụng hạ Cholesterol huyết thanh, được chứng minh rõ trên mô hình gây cholesterol cao ở thỏ nhà, thuốc còn có tác dụng làm giảm hấp thu cholesterol của ruột thỏ, theo tác giả, thuốc có thành phần hữu hiệu kết hợp với cholesterol (Tân y học, 5 – 6, 1972). Thuốc có tác dụng phòng chống và giảm nhẹ xơ cứng động mạch. Có thể tác dụng giảm xơ cứng động mạch và do thuốc có thành phần Lecithin (Tân y học, 5 – 6, 1972).

10.2. Thuốc làm chậm nhịp tim. Làm tăng nhẹ lưu lượng máu động mạch vành và bảo vệ được cơ tim thiếu máu.

10.3. Thuốc giữ được tuyến ức của chuột nhắt già không bị teo mà giữ được mức như lúc chuột còn non, tác dụng này có ý nghĩa chống lão hóa nhưng cơ chế còn cần nghiên cứu thêm.

10.4. Thuốc có tác dụng nhuận tràng do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột (Trích yếu văn kiện nghiên cứu Trung dược – Nhà xuất bản Khoa học xuất bản 1965, trang 345 – 346). Hà thủ ô sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn Hà thủ ô chín.

10.5. Tác dụng kháng khuẩn và virus: thuốc có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn lao ở người và trực khuẩn lỵ Flexner. Thuốc có tác dụng ức chế virus cúm (Học báo Vi sinh vật 8,164, 1960).

11. Công năng:

Bổ huyết giữ tinh, hoà khí huyết, bổ can thận, mạnh gân xương, nhuận tràng.

12. Công dụng:

Bổ máu, chống viêm. Chữa thận suy, yếu gan; thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém; sốt rét mạn tính, thiếu máu, ít sữa; các bệnh của phụ nữ sau khi đẻ, xích bạch đới; đau lưng, thấp khớp, di tinh, khí hư, đại tiện ra máu; đái buốt, đái dắt, đái ra máu (lao lâm); mẩn ngứa, bệnh ngoài da.

Uống lâu ngày chữa người già xơ cứng mạch máu não, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con; chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, hồi hộp chóng mặt, ù tai hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón; điều kinh bổ huyết.

13. Cách dùng, liều lượng:

12-20g một ngày, dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu bổ. Trước khi dùng phải chế biến, phụ liệu chính là đậu đen.

14. Bài thuốc:

14.1. Chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, và hồi hộp chóng mặt, ù tai, hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón, dùng Hà thủ ô chế, Sinh địa, Huyền sâm, mỗi vị 20g sắc uống.

14.2. Chữa người già xơ cứng mạch máu, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con, dùng Hà thủ ô 20g, Tầm gửi Dâu, Kỷ tử, Ngưu tất đều 16g sắc uống.

14.3. Bổ khí huyết, mạnh gân cốt, Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.

14.4. Chữa đái dắt buốt, đái ra máu (Bệnh lao lâm), dùng lá Hà thủ ô, lá Huyết dụ bằng nhau sắc rồi hoà thêm mật vào uống.

14.5. Điều kinh bổ huyết: Hà thủ ô (rễ, lá) 1 rổ lớn, Đậu đen 1/2kg. Hai thứ giã nát, đổ ngập nước, nấu nhừ, lấy vải mỏng lọc nước cốt, nấu thành cao, thêm 1/2 lít mật ong, nấu lại thành cao, để trong thố đậy kín, mỗi lần dùng 1 muỗng canh, dùng được lâu mới công hiệu.

Kiêng kỵ:Uống Hà thủ ô thì kiêng ăn hành, tỏi, cải củ. Đối với người có áp huyết thấp và đường huyết thấp thì kiêng dùng.

Ghi chú: Hà thủ ô trắng là rễ củ của cây Hà thủ ô trắng, còn gọi là Dây sữa bò (Streptocaulon juventas Merr.), họ Thiên lý (Asclepiadaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta. Các lương y dùng Hà thủ ô trắng làm thuốc bổ máu, bổ can thận

 

Cây Hương thảo là cây gì? Công dụng của cây hương thảo

Loại cây có nguồn gốc từ khu vực Địa Trung Hải, tên tiếng Anh là Rosemary, loại thảo dược có mùi thơm dễ chịu, thường xanh, lá hình kim. Hương thảo thích nghi ở vùng khí hậu mát mẻ, loài cây này có thể chịu được hạn hán và có thể thiếu nước trong một thời gian dài.

Hương thảo còn được gọi với tên Tây dương chổi, là loại thực vật có hoa thuộc họ nhà Hoa môi (Laminaceae), có tên khoa học là Rosmarinus officinalis L. Cái tên Rosmarinus được đặt theo tiếng Latin, trong đó Ros nghĩa là sương, marinus có nghĩa là biển, gọi đầy đủ là Sương của biển ý nói về nguồn gốc của loại cây này là ở trên bờ biển vùng Địa Trung Hải.

Tại Việt Nam, cây hương thảo được sử dụng như một loài cây trang trí trong vườn chứ chưa phổ biến như loại gia vị. Vuốt nhẹ lá cây hương thảo, mùi thơm dễ chịu vương trên ngón tay giúp bạn thư giãn và được chứng minh có tác dụng tăng cường trí nhớ. Lá cây hương thảo là gia vị thích hợp và tốt cho sức khỏe nếu được bổ sung thường xuyên vào chế độ ăn.

Dùng 2 – 3g lá hương thảo khô hãm trong một tách nước sôi làm một liều. Ngày uống 4 – 5 liều. Hoặc dùng 20g lá khô (30g lá tươi) hãm với 500ml nước sôi, chia 4 – 5 lần để uống trong ngày. Tác dụng giảm nhức đầu, tăng tuần hoàn máu, tăng huyết áp, giúp tăng tiết mật và lợi tiểu.

Xoa nhẹ nước hãm thuốc này lên da đầu để tăng cường sự mọc tóc hoặc dùng để rửa các vết thương nhiễm trùng và lâu khỏ, rửa mắt 3 – 4 lần trong ngày khi bị viêm giác mạc nhẹ.

Nước sắc lá hương thảo dùng cho súc miệng, để chữa loét miệng và viêm tuyến nước bọt Tinh dầu hương thảo dùng xoa bóp giúp giảm đau cơ do thấp khớp, sưng đau do bong gân,  pha vào nước tắm 3 – 4 giọt giúp sảng khoái tinh thần, thư giãn cơ thể, giảm stress. 

Lá cây hương thảo cung cấp  khoảng 131 calo và không chứa cholesterol, chứa nhiều chất xơ, vitamin A. Mỗi ngày ăn vài lá cây hương thảo được chứng minh cung cấp đủ lượng vitamin A giúp mắt sáng khỏe, chống oxy hóa và ngăn ngừa bệnh ung thư phổi và khoang miệng. Bên cạnh quả ô liu và cá biển, cây hương thảo được cho là bí quyết vàng để người dân vùng Địa Trung Hải sống thọ. Cây hương thảo chứa nhiều canxi, sắt và vitamin B6, góp phần vào sự ổn định nhiệt của Omega 3 và giúp tăng tuổi thọ.

Công dụng của cây hương thảo

  1. Hương thảo có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh đau dạ dày cùng các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa: Khả năng kích thích tiết dịch dạ dày giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
  2. Hương thảo giúp thông tiểu, khả năng chống oxy hóa, làm lành vết thương: Sử dụng nước hãm là cách đơn giản mỗi ngày dễ làm.
  3. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hương thảo có thể giúp phòng chống các loại bệnh ung thư vú và ung thư da.
  4. Chữa bệnh về tuyến tiền liệt: Lấy 2 giọt tinh dầu hương thảo kết hợp với 1/2 thìa cà phê một trong các loại dầu oliu, jojoba, argan, dừa,… để mát xa lên vùng tinh hoàn.
  5. Tăng cường chức năng túi mật: Dùng 3 giọt tinh dầu hương thảo kết hợp 1/4 thìa cà phê dầu dừa, mát xa hỗn hợp lên các vị trí trước và sau của túi mật, làm đều đặn mỗi ngày.
  6. Trị đau nhức xương khớp, thấp khớp, bị bong gân gây sưng đau: Dùng tinh dầu hương thảo xoa bóp vùng bị đau, xoa đều và nhẹ từ 5-10 phút.
  7. Pha nước tắm giúp tỉnh táo tinh thần, giảm stress, thư giảm cơ thể: Khi tắm cho vài giọt tinh dầu hương thảo vào bồn tắm, vừa rất tốt và mang lại mùi hương dễ chịu.

Tổng hợp