Công dụng của BẠC HÀ (Herba Menthae)

BẠC HÀ (Herba Menthae)

1. Tên khoa học: Mentha arvensis L. (Bạc hà Á), hoặc Mentha piperita L. (Bạc hà Âu),

2. Họ: Bạc hà (Lamiaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

3. Tên khác:

4. Mô tả:

Cây thảo, sống lâu năm. Thân mềm, hình vuông. Loại thân ngầm mang rễ mọc bò lan, loại thân đứng mang lá, cao 30-40cm, có khi hơn, mầu xanh lục hoặc tím tía. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng. Cuống ngắn. Mép lá khía răng đều. Hoa nhỏ, mầu trắng, hồng hoặc tím hồng, mọc tụ tập ở kẽ lá thành những vòng nhiều hoa. Lá bắc nhỏ, hình dùi. Đài hình chuông có 5 răng đều nhau. Tràng có ống ngắn. Phiến tràng chia làm 4 phần gần bằng nhau, có 1 vòng lông ở phía trong. 4 nhụy bằng nhau, chi nhụy nhẵn. Quả bế có 4 hạt. Các bộ phận trên mặt đất có lông gồm lông che chở và lông bài tiết tinh dầu.

Mùa hoa quả vào tháng 7 – 10.

5. Phân bố:

Cây của vùng Âu Á ôn đới. Ở nước ta có những cây mọc hoang ở miền núi, nơi đất ẩm, mát và những chủng nhập trồng ở nhiều nơi..  

6. Trồng trọt:

Cây ưa đất xốp, tốt nhất là đất sét có nhiều mùn, ẩm ướt, thoát nước nhưng đủ độ ẩm. Đất cần làm cỏ bón phân kỹ trước, làm luống rộng, trên mỗi luống trồng 2-3 hàng. Có thể trồng quanh năm nhưng thường trồng vào 2 mùa là mùa xuân (tháng 2-3) và mùa thu (tháng 8-9), trồng vào mùa xuân cho năng suất cao nhất. Trồng bằng hạt (ít áp dụng), thân ngầm hoặc thân cây trên mặt đất, cắt đoạn dài 15-30cm. Sau 3-4 tháng có thể thu hoạch đợt đầu, thường một năm có thể cắt cây 3-4 lần; lần thứ nhất vào tháng 6-7, sau đó cần xới và bón phân, sau 2 tháng (vào cuối tháng 8 hay tháng 9) lại hái lần nữa vào lúc cây đang ra hoa nhiều. Hái về, cần bó lại từng bó, phơi chỗ mát cho khô, hoặc nếu cất tinh dầu thì cần cất ngay hoặc để hơi héo rồi cất.

7. Bộ phận dùng:

Thân, cành mang lá (Herba Menthae)

8. Thu hái, chế biến:

Thu hái vào khoảng tháng 5, 8, 11 thu hoạch lúc cây mới ra hoa, rửa sạch dùng tươi hoặc phơi trong râm cho khô.

Lấy lá Bạc hà khô, tẩm nước, để vào chỗ râm mát, khi lá cây mềm, cắt ngắn từng đoạn, phơi trong râm cho khô để dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

Rửa qua, để ráo nước, cắt ngắn chừng 2cm, phơi trong râm cho khô (Dược Liệu Việt Nam).

9. Thành phần hoá học chính:

Tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là menthol.

10. Tác dụng dược lý:

Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc Bạc hà có tác dụng ức chế đối với virus ECHO và Salmonella Typhoit (Trung Dược Học).

Tác dụng trên cơ trơn: Menthol và Menthone có tác dụng ức chế trên ruột thỏ, Menthone có tác dụng mạnh hơn (Trung Dược Học).

Ức chế đau: Tinh dầu Bạc hà và Menthol bốc hơi nhanh, gây cảm giác mát và tê tại chỗ, dùng trong trường hợp đau dây thần kinh (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Sát khuẩn mạnh: dùng trong những trường hợp ngứa của 1 số bệnh ngoài da, bệnh về tai, mũi, họng (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Ức chế hô hấp, tuần hoàn: đối với trẻ em ít tuổi, tinh dầu Bạc hà và Menthol bôi vào mũi hoặc cổ họng có thể gây hiện tượng ức chế dẫn tới ngừng thở và tim ngưng đập hoàn toàn. Người ta đã nhận xét thấy 1 số trường hợp chết do nhỏ mũi 1 giọt dầu Menthol 1% hoặc bôi vào niêm mạc mũi loại thuốc mỡ có Menthol. Vì vậy, cần hết sức thận trọng khi dùng tinh dầu Bạc hà hoặc dầu cù là cho trẻ nhỏ ít tuổi, nhất là trẻ mới đẻ (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Tác động đến nhiệt độ cơ thể: Bạc hà, tinh dầu Bạc hà hoặc Menthol uống với liều rất nhỏ có thể gây hưng phấn, làm tăng bài tiết của tuyến mồ hôi, làm nhiệt độ cơ thể hạ thấp (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Liều lớn có tác dụng kích thích tủy sống, gây tê liệt phản xạ và ngăn cản sự lên men bình thường trong ruột (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Bạc hà có tác dụng kháng vi khuẩn trong thí nghiệm In Vitro đối với các chủng vi khuẩn tả Vibrio Choreia Elto, Vibrio Choreia Inaba, Vibrio Choreia Ogawa (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Tinh dầu Bạc hà có tác dụng ức chế thần kinh trung ương do tác dụng chủ yếu của Menthol (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Tinh dầu Bạc hà làm giảm sự vận động và chống co thắt của ruột non. Các chất Menthol và Menthone ức chế sự vận động của đường tiêu hóa từ ruột xuống, có tác dụng làm gĩan mao mạch (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

11. Công năng:

Tán phong nhiệt, hạ sốt, thông mũi, chữa nhức đầu, giúp tiêu hóa, đau bụng

12. Công dụng:

Chữa cảm cúm, nhức đầu, ngạt mũi, viêm họng, kích thích tiêu hoá, chữa đau bụng, đầy bụng.

Cất tinh dầu bạc hà và chế menthol dùng để sản xuất dầu cao sao vàng, làm chất thơm cho các sản phẩm thực phẩm như bánh kẹo, thuốc đánh răng, và trong một số ngành kỹ nghệ khác.

13. Cách dùng, liều lượng:

Dùng dưới dạng thuốc xông, thuốc hãm 12-20g mỗi ngày.

14. Bài thuốc:

14.1. Cảm cúm, đau đầu, sổ mũi, dùng Bạc hà 5g, hạt Quan âm, Cúc hoa vàng mỗi vị đều 10g. Kinh giới 7g, Kim ngân hoa 15g, sắc uống.

14.2. Ðau họng: Dùng Bạc hà 5g, Ngưu bàng, Huyền sâm, Cát cánh, Camthảo mỗi vị 10g sắc uống.

Ghi chú: Phụ nữ cho con bú không nên dùng nhiều, vì nó giảm sự tiết sữa. Húng cây – Mentha arvensis L.var, javanica (Blume) Hook, là một thứ của Bạc hà thường trồng vì lá thơm, cũng dùng làm thuốc. Nó có vị cay tính ấm, có tác dụng thông phế khí, giải ban, tán hàn, giải biểu, thông thần kinh.

 

Công dụng của BẠCH ĐÀN (Folium et Oleum Eucalypti)

BẠCH ĐÀN (Folium et Oleum Eucalypti)

1. Tên khoa học: Eucalyptus sp. Loài thường dùng ở nước ta là Bạch đàn trắng (E. camaldulensis  Dehnhardt), Bạch đàn liễu (E. exserta F.V. Muell), Bạch đàn chanh (E. citriodora Hook.f),

2. Họ:Sim – Myrtaceae. 

3. Tên khác:Khuynh diệp.

4. Mô tả:

Cây: Cây Bạch đàn (Eucalyptus camaldulensis Dehn.) là cây gỗ to, vỏ mềm, bần bong thành mảng để lộ vỏ thân màu sáng, cành non có 4 cạnh, lá non mọc đối, không cuống, phiến lá hình trứng, màu lục như phủ sáp. Lá già mọc so le phiến lá hình liềm hẹp và dài hơn lá non. Phiến lá có túi tiết tinh dầu. Hoa mọc ở nách lá. Quả hình chén

Dược liêu: Lá hình mũi dáo hay hình lưỡi liềm, cuống ngắn và hơi vặn, phiến lá dài và hẹp (ở loài E. exserta) giòn và rộng hơn (ở loài E. camaldulensis), rộng 1 – 5 cm, dài 8 – 18 cm. Hai mặt lá đều có màu xanh ve ít vàng nhạt, lác đác có nhiều chấm nhỏ màu vàng. Khi soi lá trước ánh sáng thấy rất nhiều túi tiết tinh dầu nhỏ li ti. Gân cấp hai tỏa ra từ gân giữa, gặp nhau ở mép lá. Khi vò lá có mùi thơm mạnh đặc biệt, mùi dịu hơn ở loài E. camaldulensis. Vị thơm nóng, hơi đắng chát, sau có cảm giác mát và dễ chịu.

5. Phân bố:

Cây được trồng nhiều nơi ở Việt Nam.

6. Trồng trọt:

7. Bộ phận dùng:

Lá, ngọn mang lá.

8. Thành phần hoá học:

Về phương diện khai thác tinh dầu người ta thường quan tâm đến 3 nhóm chính:
1. Nhóm giàu cineol (có hàm lượng cineol trong tinh dầu > 55%) cho tinh dầu được gọi là Oleum Eucalypti

Ðại diện cho nhóm này là Eucalyptus globulus Lab. với những ưu điểm nổi bật: Hàm lượng tinh dầu và hàm lượng cineol khá cao, có thể đến 80 – 85%.

Lá có tinh dầu: 1,3 – 2,25% (E.camaldulensis) và 1,40 – 2,60% (E.exserta). Hàm lượng tinh dầu DÐVN III (2002) qui định không dưới 1,2%.
Thành phần tinh dầu: Thành phần chính là cineol. Loài E. camalduleusis có thể đạt 60 – 70%. Loài E.exserta thấp hơn 30-50%. DÐVN II (1994) qui đinh hàm lượng cineol không dưới 60%. Cũng như tinh dầu tràm, tinh dầu bạch đàn trước khi sử dụng cần được tinh chế và làm giàu cineol.

2. Nhóm giàu citronelal:cho tinh dầu Oleum Eucalipti Citriodorae

Ðại diện là E. citriodora Hook.f. với hàm lượng citronelal trên 70%
Lá có chứa một hàm lượng lớn tinh dầu (3,3 – 4,8%). Thành phần chính của tinh dầu là citronelal (trên 70%) ngoài ra còn có citronelol (5,6%).

3. Nhóm giàu piperiton:

Ðại diện là E. piperita Sm. với hàm lượng piperiton 42-48%.

9. Công dụng:

Lá: Có thể dùng lá bạch đàn trắng hoặc bạch đàn liễu để thay thế lá bạch đàn xanh (E. globulus) là loại đã được sử dụng rất lâu đời ở các nước châu Âu. Dạng dùng: Thuốc hãm, thuốc xông, hoặc pha chế thành các dạng bào chế như xiro cồn lá bạch đàn, dùng để chữa ho, sát khuẩn đường hô hấp, chữa các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, ho, hen v.v…

Tinh dầu được sử dụng như tinh dầu tràm. Tuy nhiên, đến nay Bạch đàn ở Việt Namchưa được khai thác ở qui mô công nghiệp như tràm. Còn ở phạm vi nghiên cứu thăm dò và đề xuất.

Tinh dầu bạch đàn chanh được Khoa tai – mũi – họng – bệnh viên Bạch Mai sử dụng nhiều trong những năm kháng chiến chống Mỹ để chữa ho, viêm họng, sát khuẩn đường hô hấp.

Tinh dầu còn được dùng trong kỹ nghệ hương liệu để sản xuất nước hoa và các loại chất thơm khác có mùi thơm tự nhiên của hoa, có thể thay thế tinh dầu sả Java (Cymbopogon winterianus).

Ghi chú:

Bạch đàn còn được gọi là Khuynh diệp. Có nhiều loài Bạch đàn. Phần lớn trồng lấy gỗ, một số loài trồng để khai thác tinh dầu. Nước ta đã di thực được một số loài Bạch đàn lấy tinh dầu có giá trị như Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehnhardt), Bạch đàn liễu (Eucalyptus exserta F.V.Muell), Bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora Hook.f.).

Theo Dược điển Trung Quốc (1997) tinh dầu Bạch đàn (Eucalyptus oil) được khai thác từ các cây Eucalyptus globulus Labill., họ Sim (Myrtaceae), cây Long não – Cinnamomum camphora (L.) Nees & Eberm., họ Long não (Lauraceae) và một số cây khác cùng chi của hai họ thực vật trên.

Không nhầm Bạch đàn với cây Ðàn hương (Santalum album L.), họ Ðàn hương (Santalaceae) cho gỗ làm thuốc.

 

Công dụng của BA GẠC (Cortex et Radix Rauvolfiae)

BA GẠC (Cortex et Radix Rauvolfiae)

1. Tên khoa học: Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill. = R. chinensis Hemsl. (Ba gạc); R. vomitoria Afz. (Ba gạc bốn lá); R. cambodiana Pierre (Ba gạc lá to); R. canescens L. (Ba gạc Cuba); R. serpentina (L.) Benth. ex Kurz. (Ba gạc Ấn Độ).

2. Họ: Trúc đào (Apocynaceae). Những loài này mọc hoang hoặc được đưa từ các nước khác về trồng ở nước ta.

3. Tên khác: La phu mộc.

4. Mô tả:

Cây nhỏ, cao 1-1,5m. Thân nhẵn, có những nốt sần nhỏ màu lục sau xám. Lá mọc vòng 3 có khi 4-5; phiến lá hình ngọn giáo dài 4-16cm, rộng 1-3cm, gốc thuôn, chóp nhọn. Hoa nhỏ màu trắng, hình ống phình ở họng, mọc thành xim dạng tán kép dài 4-7cm. Quả dài xếp từng đôi, hình trứng, khi chín có màu đỏ tươi rồi chuyển sang màu tím đen.

Ra hoa tháng 3-12, có quả tháng 5 trở đi. Ở đồng bằng, có khi hoa nở quanh năm.

5. Phân bố:

Cây mọc hoang ở Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thanh Hoá, Lào Cai. Cùng phân bố ở Trung Quốc.

6. Trồng trọt:

Ba gạc ưa khí hậu ôn hoà, nhiệt độ trung bình 22-23oC. Cây sống ở nơi ánh sáng yếu, nhưng trồng ở chỗ rãi nắng, cây vẫn sống được. Cây ưa đất pha cát, ẩm, nhiều mùn và thoát nước, chịu được úng nhưng chỉ trong thời gian ngắn. Những chỗ đất kho cằn khong thích hợp với Ba gạc.

Có thể trồng bằng hạt hay hom thân cành. Hạt tươi có tỷ lệ mọc cao hơn hạt khô. Khi quả chín, ngắt từng quả, ngâm nước độ 10 giờ. Sau đó, chà sát bỏ thịt quả và hạt lép. Hạt tốt chimg trong nước. Đem hạt ngâm trong nước ấm 40oC (1 sôi, 3 lạnh) trong 10-12 giờ. Vớt hạt để ráo nước rồi đem gieo. Thu hạt đến đau gieo ngay đến đó. Gieo hạt vào mùa thu, cs thể đánh trồng vào mùa xuân (tháng 3-4). Thời vụ này thích hợp và tỷ lệ cây sống cao. Có thể phơi khô hạt, cất nơi cao ráo, thoáng mát.

Chọn đất tiện tưới tiêu nước, đảm bảo đát luôn ẩm, tơi xốp, độ pH = 5-6,5 để làm vườn ươm. Làm đất nhỏ, lên luống cao 15- 20cm, mặt luống rộng 80cm. Sau đó tiến hành gieo hạt. Gieo theo hàng cách nhau 20cm hoặc gieo vãi, hàng cách nhau 2-3cm, gieo xong lấp đất dày 1cm, phủ rơm rạ hoặc cỏ khô để giữ ẩm. Khi hạt mọc đều, bỏ rơm rạ và đảm bảo đất luôn ẩm và sạch cỏ. Nếu cây còi cọc, lá vàng, có thể tưới thúc phân chuồng loãng hoặc phân đạm.

Ngoài nânh giống bằng hạt, có thể nhân bằng hom thân cnhf. Kỹ thuật làm vườn ươm tương tự như gieo hạt. Chọn cành bánh tẻ, chặt thành đoạn 15-20cm. Gốc hom nên chặt hơi vát. Cắm cành chếch 45o và để hở ngọn hom 2-3cm. Khoảng cách cành giâm 20 x 10cm. Sau đó nén chặt đất, phủ luống bằng rơm rạ, tưới nước giữ ẩm và đảm bảo luôn sạch cỏ. Sau 7-10 ngày, cành bắt đầu mọc mầm, và 15-20 ngày bắt đầu mọc rễ. Khi mầm mọc dài 3-5cm, có thể thúc bằng nước phân chuồng hay phân đạm. Nhân giống bằng phương pháp giâm cành chỉ giải quyết giống tại chỗ. Thời vụ ươm và trồng tương tự như gieo hạt.

Khi đưa ra trồng để sản xuất, cần chọn khu đất ven đồi, rừng hoặc thung lũng pha cát, nhiều mùn ẩm. Nếu khai hoang, phải tiến hành làm đất trước 1 tháng. Cuốc đất sâu độ 20cm, để ải. Khi trồng, làm đất tơi nhỏ, nhặt sạch cỏ và rễ cây. Lên luống cao khoảng 20cm, rộng 50-70cm tuỳ từng loại ba gạc. Bổ hốc sâu 15cm, bón lót 10 tấn phân chuồng trọn hoặc ủ 200kg supe lân/ ha. Trộn phân và đất cho đều rồi tiến hành trồng. Bứng cây giống đến đâu trồng ngay đến đó. Trồng với khoảng cách 50 x 50cm (đối với loài R. verticilata và R. vomitoria), 40 x 50cm hoặc 40 x 40cm đối với những loài thấp cây. Mỗi luống trồng hai hàng, trông đến đâu tưới ngay đến đó. Sau khi trồng đảm bảo đất luôn luôn ẩm và làm cỏ vun xới mỗi tháng một lần. Khi cây giao tán có thể ngừng. Mùa đông năm thứ nhất cần vun xới, làm cỏ và bón thúc 5 tấn phân chuồng để cây ngủ qua đông. Bón giữa 2 hàng cây. Sang năm thứ 2, việc chăm sóc đơn giản hơn. Thường làm cỏ vào 2 tháng 5 và 8.

Trồng Ba gạc sau 2 năm có thể thu hoạch.

Khả năng di thực: Cây Ba gạc có khả năng phát triển tốt ở những vùng có khí hậu mát mẻ.

Khả năng phát triển vùng chuyên canh: Có khả năng phát triển trồng ở các vùng chuyên canh. Loài này đã được khai thác làm thuốc triệt để và liên tục từ nhiều năm nay, nên hiện nay cây đã hiếm dần.

7. Bộ phận dùng:

Vỏ rễ và rễ (Cortex et Radix Rauvolfiae)

8. Thu hái, chế biến:

Vào mùa thu, đông, đào rễ về, rửa sạch đất, phơi hoặc sấy khô. Cần chú ý bảo vệ lớp vỏ vì lớp vỏ chứa nhiều hoạt chất nhất.

Có thể dùng tươi, khô hoặc nấu thành cao.

9. Thành phần hoá học:

Trong rễ và lá có alcaloid toàn phần là 0,9-2,12% (rễ) và 0,72-1,69% (lá) trong đó chủ yếu là reserpin, rescinnamin, raunescin, serpentinin, rauvolfia A (C25H28N2O2).

10. Tác dụng dược lý:

Đối với huyết áp: dùng nước sắc Ba Gạc nghiên cứu trên thỏ và chó thấy có tác dụng giảm áp rõ với liều 0,5/kg thân thể súc vât (Bộ môn sinh lý đại học y dược Hà Nội 1960).

Đối với tim: trên tim ếch cô lập và tại chỗ thấy nước sắc Ba Gạc làm chậm nhịp tim (do Ajmalin). Trên hệ mạch ngoại biên của thỏ không thấy có tác dụng trên mạch máu ngoại biên.

Trên ruột thỏ cô lập thấy liều nhẹ làm tăng nhu động ruột.

Trên hệ thần kinh trung ương thấy không làm giảm sốt.

Có tác dụng trấn tĩnh, gây ngủ (do Reserpin, Retxinamin).

Theo ‘Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam’:

Reserpin được coi là Alcaloid quan trọng nhất, đại biểu cho dược tính của Ba Gạc. Hai tác dụng dược lý quan trọng của Reserpin được xử dụng trong điều trị là hạ huyết áp và an thần.

Reserpin làm hạ huyết áp cả trên súc vật gây mê hoặc không gây mê. Tác dụng này xuất hiện chậm và kéo dài.cơ chế tác dụng hạ áp là do làm cạn dần kế hoạch dự trữ chất dẫn truyền trung gian Noradrenalin trong các dây thần kinh giao cảm, được coi như hiện tượng cắt hệ thần kinh giao cảm bằng hóa chất. Reserpin không có tác dụng làm liệt hạch, có tác dụng làm chậm nhịp tim, làm dãn các mạch máu dưới da.

Đối với thần kinh trung ương, Reserpin có tác dụng ức chế, gây trấn tĩnh rõ, giông là các dẫn chất Phenothiazin

Đối với mắt, Reserpin có tác dụng thu nhỏ đồng tử 1 cách rõ rệt (là 1 trong những triệu chứng sớm nhất sau khi dùng thuốc).

Reserpin còn làm sa mi mắt, làm thư dãn mi mắt thứ 3 (Nictitating membrane) của mèo và chó.

Đối với hệ tiêu hóa: Reserpin làm tăng nhu động ruột và bài tiết phân.

Đối với  thân nhiệt: sau khi dùng Reserpin, có sự rối loạn về điều hòa thân nhiệt.

Đối với hệ nội tiết: Reserpin có tác dụng kích thích vỏ tuyến thượng thận giải phóng các Corticoid. Có tác dụng kháng lợi niệu yếu. Trên chuột cống cái, Reserpin làm ngừng chu kỳ động dục, ức chế sự phóng noãn. Trên chuột đực, ức chế sự phân tiết Androgen.

Độc tính của Reserpin:

Liều chịu đựng được bằng đường uống đối với súc vật: 10-2000mg/kg.
LD50 bằng đường tiêm tĩnh mạch trên chuột cống trắng: 28 ± 1,6mg/kg, bằng đường uống trên chuột nhắt là 500mg/kg.

Thành phần hoá học chính: Nhiều alcaloid (0,8%), trong đó quan trọng nhất là reserpin, serpentin, ajmalin.

11. Công năng:

Thanh nhiệt hoạt huyết, giải độc, giáng huyết áp. Nước sắc Ba gạc có tác dụng làm giảm huyết áp có nguồn gốc trung ương, làm tim đập chậm, lại có tác dụng an thần và gây ngủ.

12. Công dụng:

Chiết xuất các alcaloid (reserpin, ajmalin, alcaloid toàn phần) dùng dưới dạng viên nén chữa cao huyết áp. Ajmalin dùng chữa loạn nhịp tim dưới dạng thuốc viên và thuốc tiêm.

13. Bài thuốc:

13.1. Reserpin: viên nén 0,0001g, 0,00025g và 0,0005g. Thuốc tiêm 5mg/2ml.

13.2. Viên Rauviloid (2mg Alcaloid toàn phần của R. serpentina), liều dùng cho bệnh huyết áp cao là 2-4mg/ngày.

13.3. Viên Raudixin (bôt rễ R. serpentina) 50-100mong, liều dùng trung  bình hàng ngày là 200-400mg.

Theo hocvienquany

Ý nghĩa của cây bàng Singapore

Cây bàng Singapore là một loài cây nội thất mới được du nhập vào Việt Nam. Với đặc điểm hình thái thu hút, loài cây này đã chiếm được cảm tình rất lớn của người yêu cây hoa.

Tên thường gọi: Cây bàng Singapore

Tên gọi khác: Cây bàng Singapore còn được gọi với những cái tên thuần Việt khác như: cây bàng vuông, cây bàng nội thất hay cây bàng lá to.

Tên khoa học: Ficus Lyrata

Họ thực vật: Cây bàng Singapore thuộc họ dâu tằm (họ Moraceae)

Nguồn gốc: Cây bàng Singapore có nguồn gốc ở các nước phương tây, khu vực tây Phi, sau đó du nhập về Singapore.

Hiện nay loài cây này đã được trồng khá nhiều ở Việt Nam và trở thành một loài cây trong nhà, cây nội thất được yêu thích nhất.

Không gian đô thị chật hẹp cùng với những ngôi nhà mọc lên san sát, khiến cho bạn khó khăn trong việc lựa chọn những cây trồng đồ vật trang trí cho gia đình của mình. Rất nhiều bạn thích và muốn trồng cho mình những cây lớn nhưng lại e ngại về không gian.

Vậy bạn có tin không khi bạn vẫn có thể trồng một cây bàng trong nhà mình, chắc bạn nghĩ là mình đang nói đùa đúng không?

Nếu như bạn cảm thấy điều này thật vô lý thì sau đây mình xin giới thiệu một loại cây bàng có thể trồng trong nhà, phù hợp với những không đô thị, đó chính là Cây bàng Sigapore.

Cây bàng Sigapore thuộc họ dâu tằm, với nhiều tên gọi khác nhau như: cây bàng sing, cây bàng sin, cây bàng lá to., cây này thuộc loại cây nhiệt đới, thích hợp với khí hậu nóng ẩm như nước ta.

Cây bàng Sigapore có dáng thẳng, lá to tròn hình trứng, chiều dài lên đến 38 cm và chiều rộng tầm 22 cm, lá có màu xanh đậm, tán lá rộng.

Thân cây gỗ cao từ 1,5 – 3 m, cây phát triển chậm, có khi phải mất từ 10 – 15 năm, cây mới có tán rộng, phát triển thành cây trưởng thành.

Ý Nghĩa Của Cây Bàng Sigapore

Cây bàng sing với màu xanh tươi tắn, dáng cây thẳng đứng hiên ngang, đầy sức sống, lá to tròn đầy đặn, tượng trưng cho tiền tài, may mắn mang đến nhiều tài lộc cho gia chủ.

Không chỉ thế, cây bàng sing sống lâu năm còn được ví như mang lại sức khỏe cho gia đình. Dáng cây thanh lịch rất phù hợp để bạn trưng bày ở những không gian sang trọng đấy.

Vị Trí Đặt Cây Bàng Singapore

Cây bàng sing ưa sáng, dáng cây lớn nhưng không quá đồ sộ, gọn gàng nên phù hợp mọi không gian. Bạn có thể đặt cây tại góc phòng khách, cạnh cửa sổ, góc ban công hoặc chân cầu thang, phòng bếp. Bạn cũng có thể đặt ở nơi làm việc, trang trí hai bên lối đi, trong khách sạn, hoặc quầy thu ngân…

Bởi vẻ xanh mát của cây mà khi bạn trưng một cây bàng sing trong nhà, đó như một điểm ấn cho không gian nhà bạn, vừa hiện đại, sang trọng lại có chút mới lạ gây thu hút cho người nhìn.

Cách Chăm Sóc Cây Bàng Singapore

Cây bàng sing rất dễ chăm sóc, không kén chọn môi trường sống, không tốn nhiều thời gian chăm sóc, rất phù hợp với những bạn thường xuyên bận công việc.

Cây phát triển tốt tại những nơi có ánh sáng, có nhiệt độ trung bình khoảng 16 – 27 độ, nếu nhiệt độ dưới 10 độ, cây có thể bị chết hoặc khó phát triển.

Bạn đừng để cây dưới ánh sáng trực tiếp, hoặc chiếu qua cửa kính, bới như thế có thể làm lá cây bị nhạt màu.

Khi chọn đất trồng cây, bạn nên chọn loại đất thịt sau đó trộn với phân bón hữu cơ hoặc các loại phân vi sinh.

Khi chọn chậu để trồng, bạn nên lựa chọn những chậu có lỗ thoát nước ở dưới, kích thước phù hợp để cây có thể phát triển tốt nhất. Bởi cây khá kị với Clo và Flo, do đó, bạn nên tưới nước cho cây bằng nước mưa, hoặc nước giếng khoan, tại những nơi đô thị chủ yếu dùng nước máy thì bạn có thể tận dụng nguồn nước mưa, hoặc dùng nước đã qua máy lọc.

Cây có nhiều rễ phụ, thích hợp với đất ẩm. Mặc dù cây ít sâu bệnh, nhưng có một số hiện tượng khi cây thiếu nước như lá rủ xuống, mép lá khô giòn, … bạn nên chú ý để có thể bổ sung kịp thời nước cho cây nhé!

Công dụng tuyệt vời của cây bưởi dành cho sức khỏe

Bưởi là trái cây có múi được rất nhiều người yêu thích bởi bưởi có tác dụng rất tốt cho sức khỏe. Ăn bưởi có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe như: làm giảm cholesterol trong máu, chống cao huyết áp, ngăn ngừa ung thư…Mặt khác ngoài múi bưởi dùng để ăn người ta có thể tận dụng những phần khác từ trái bưởi như: lá bưởi, hoa bưởi, cùi trắng, vỏ xanh, hạt bưởi… để sử dụng trong chế biến thực phẩm hay chữa bệnh. Trong đông y cho rằng bưởi có công hiệu lợi cho dạ dày, là thực phẩm tiêu hóa, trị hen suyễn, giải rượu.

Công dụng của cây bưởi đối với sức khỏe mọi người

– Theo y học cổ truyền, lá bưởi có vị đắng, cay, thơm và tính ấm. Nếu bạn bị cảm sốt, ăn uống khó tiêu thì có thể dùng lá bưởi già sắc lên với liều 10-20g/ngày để uống.

– Người lớn tuổi thường bị hàn thấp – đau chân, có thể dùng nước lá bưởi để ngâm chân.

– Lá bưởi non có thể dùng sao chín để đắp vào các vết tổn thương tụ máu, xoa bóp vào chỗ sai khớp, bong gân.

– Đun lá bưởi cùng với một số lá có tinh dầu như lá sả, kinh giới, tía tô… làm nước xông.

– Vỏ quả bưởi: Có tác dụng trừ phong, hòa huyết, tiêu đờm, tiêu viêm nên được dùng trong trường hợp ho hoặc khó tiêu. Dùng 4-12g vỏ quả bưởi, sắc lên uống.

– Múi bưởi: Giàu vitamin C, giàu axit hữu cơ có thể chữa chứng suy nhược cơ thể.

– Hạt bưởi: Vỏ hạt được dùng để chiết pectin có tác dụng cầm máu. Nhân hạt phơi khô, đốt thành than chữa chốc đầu cho trẻ nhỏ.

Đặc biệt vỏ bưởi có rất nhiều công dụng dành cho mọi người:

– Gội đầu bằng vỏ bưởi: giúp nhanh mọc và mượt tóc. Vỏ bưởi đun nước gọi đầu hoặc sau khi gội, bóp tinh dầu vỏ bưởi lên tóc sẽ giúp tóc bạn trở nên bóng mượt, chắc khỏe.

– Chữa ho có đờm: Lấy 10g vỏ bưởi, rửa sạch, thái chỉ, cho vào bát sau đó thêm đường kính và hấp uống, ngày 3 lần rất hiệu quả.

– Làm đẹp da: Vỏ bưởi sẽ giữ trẻ hóa lâu, giảm tỷ lệ xuất hiện nếp nhăn, tàn nhang do tăng sắc tố, cũng như mụn đầu đen, da khô.

– Hỗ trợ điều trị hen: Dùng 150g vỏ bưởi, 20g hành khô, bách hợp 30g, thêm đường trắng và nấu nước uống, chia làm ba lần uống mỗi ngày, liên tục trong 10 ngày.

9 Tác dụng thần kì của cây bưởi đối với mọi người

  • Giàu vitamin C, tăng cường miễn dịch

Bưởi còn là một chất chống oxy hoá, vitamin C bảo vệ cơ thể chống lại stress, các bệnh liên quan với hen suyễn và viêm khớp…

  • Giảm cholesterol
  • Ngăn ngừa sỏi thận

Bưởi có một hợp chất gọi là d-limonene ngăn ngừa sự hình thành và làm tan sỏi thận. Một nghiên cứu của tạp chí British Journal of Nutrition tìm thấy rằng phụ nữ uống nửa lít đến một lít nước bưởi mỗi ngày sẽ làm giảm nồng độ pH trong nước tiểu của họ, qua đó làm giảm nguy cơ phát triển sỏi thận. Tuy nhiên, nếu bạn đã được điều trị các vấn đề về thận, nước ép bưởi có thể cản trở hiệu quả của thuốc mà bạn đang xài.

  • Phòng chống ung thư
  • Giảm cân, đốt cháy mỡ thừa

Bản thân bưởi không có chất béo, có chứa một số enzyme đốt cháy chất béo cao. Các nghiên cứu cho thấy chúng góp phần thay đổi nồng độ insulin, do đó ảnh hưởng đến tỉ lệ trao đổi chất cao.

Ngoài ra cùi bưởi, vỏ bưởi và hạt bưởi cũng có tác dụng chữa bệnh: tinh dầu vỏ bưởi làm tóc nhanh mọc. Lấy 15g hạt bưởi, băm nhuyễn nấu nước uống, ngày uống 1 lần vào sáng và chiều có thể chữa được thoát vị bẹn, sa đì. Lấy 100g cùi bưởi nhai nuốt dần dần có thể giải được rượu.

  • Làm đẹp da

Với lượng vitamin A cao cùng với vitamin C đặc tính chống oxy hoá mạnh mẽ, bưởi giúp duy trì đủ độ ẩm trong da, bảo vệ da khỏi bị khô, bệnh vẩy nến, mụn trứng cá và nếp nhăn.

  • Chữa đái đường, béo phì và tim mạch

Gần đây, các nhà khoa học còn phát hiện trong nước bưởi có chứa insulinl; có thể làm hạ đường huyết. Mỗi ngày ăn một quả bưởi chua sẽ có tác dụng rất tốt cho những người mắc bệnh đái đường, béo phì và người mắc bệnh tim mạch.

  • Bưởi giúp thanh lọc gan

Uống nước ép bưởi sẽ giúp gan khỏe hơn và làm sạch các độc tố có trong gan. Thanh lọc gan sẽ giúp thuyên giảm các bệnh mãn tính như trầm cảm, cứng cơ hay đau đầu mãn tính

  • Bài thuốc giân dan, kích thich mọc tóc cho bé, chữa ho nhiều đờm, ăn không tiêu

Trong dân gian người ta thường dùng vỏ bưởi phơi khô để đun nước gội đầu với mục đích ngăn dụng tóc. Bên cạnh đó dân gian còn lưu truyền cách kích thích mọc tóc cho bé mới sinh bằng cách lấy vỏ bưởi chứa tinh dầu thoa lên da đầu cho bé để kích thích lỗ chân lông và phòng trị rụng tóc.

Múi bưởi bỏ hạt, cắt nhỏ cho vào bình miệng rộng, đổ rượu ngập rồi đun cho nhừ, trộn thêm mật ong, thỉnh thoảng xúc một thìa ngậm trong miệng- Chữa ho nhiều đờm

Vỏ bưởi rửa sạch, gọt vỏ lớp ngoài cùng rồi cắt thành sợi, đổ đường trắng vào ngâm trong một tuần, mỗi lần uống 15g, ngày 2-3 lần – Chữa ăn không tiêu.

Công dụng của cây bông mã đề

Trong đông y, cây mã đề có tính lạnh, vị ngọt, tác dụng khử nhiệt, mát máu, ngưng cháy máu cam, thông mồ hôi, làm sáng mắt, tiểu tắc nghẽn, làm sạch phong nhiệt tại phổi, gan, trị chứng thấp nhiệt ở bàng quang, khiến cường âm tích tinh, lợi tiểu tiện mà không chạy khí.

Mã đề còn được gọi là cây xa tiền. Đây là loại cây mọc hoang thường hay được trồng tại nhiều nơi trên cả nước. Bông lá đề là loài cây cỏ có thân ngắn và có khả năng sống lâu năm. Phiến lá có hình trứng hoặc hình thìa, gân thường có ở dọc sống lá. Lá của cây mã đề thường mọc ra từ gốc theo hình hoa thị.

Công dụng của cây bông mã đề

– Mã đề tính hàn, vị ngọt, không độc. Có tác dụng lợi tiểu, thanh phế can, trừ phong nhiệt, thẩm thấp khí trong bàng quang, chữa đẻ khó, ho, trừ đờm, cầm đi ngoài khi bị tả, giúp sáng mắt, bồi bổ cơ thể.

– Mã đề được dùng làm thuốc thông tiểu, chữa ho lâu ngày, viêm khí quản, tả lỵ, đau mắt đỏ.

– Thuốc viên bào chế từ cao mã đề và terpin đã được áp dụng trên lâm sàng, điều trị hiệu quả các bệnh viêm cấp tính đường hô hấp trên, làm nhẹ quá trình cương tụ niêm mạc hô hấp, chữa ho và phục hồi tiếng nói ở bệnh nhân viêm thanh quản cấp.

– Cao nước mã đề đã được áp dụng cho hơn 200 bệnh nhân viêm amiđan cấp, kết quả 92% khỏi bệnh, 8% đỡ. Tác dụng hạ sốt, phục hồi số lượng bạch cầu và làm hết các triệu chứng tại chỗ của mã đề được đánh giá là tương đương các thuốc kháng khuẩn thường dùng.

– Mã đề cũng được sử dụng trong các dược phẩm trị mụn nhọt và bỏng. Thuốc dạng dầu chế từ bột mã đề khi đắp lên mụn nhọt có thể làm mụn đỡ mung mủ và viêm tấy.

– Thuốc mỡ bào chế từ cao đặc mã đề đã được sử dụng để điều trị các ca bỏng 2-45% diện tích da, đạt kết quả tốt. Bệnh nhân cảm thấy mát, dễ chịu, không xót, không nhức buốt, dễ thay bông và bóc gạc. Vết bỏng đỡ nhiễm trùng, ít mủ, giảm mùi hôi thối, lên da non tốt, thịt phát triển đều, không sần sùi. Bệnh nhân giảm được lượng thuốc kháng sinh dùng toàn thân.

– Nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy, chất polysacharid trong hạt mã đề có tác dụng nhuận tràng, trị táo bón mạn tính.

Bộ phận dùng, chế biến của bông mã đề:

  • Hạt cây bông mã đề phơi hay sấy khô gọi là Xa tiền tử.
  • Toàn cây bông mã đề bỏ rễ phơi hay sấy khô gọi là Xa tiền thảo.
  • Lá cây bông mã đề để tươi hay phơi hoặc sấy khô.

Bài thuốc chữa bệnh thận và tiết niệu của bông mã đề

Công dụng nổi bật nhất của mã đề là thông tiểu tiện nên dân gian thường dùng loại cỏ này nấu nước uống để có tác dụng lợi tiểu, giải độc cơ thể.

Tuy nhiên, ít người biết rằng mã đề còn được sử dụng chữa rất nhiều loại bệnh về thận nói riêng và đường tiết niệu nói chung. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng cây mã đề đặc biệt là phần lá có tác dụng lợi tiểu, tăng thải trừ urê, acid uric và muối trong thận. Do đó, dùng bông mã đề làm thuốc rất có lợi cho thận và đường tiết niệu:

– Làm lợi tiểu: 10g hạt mã đề, 2g cam thảo, 600ml nước, sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày.

– Chữa viêm cầu thận cấp tính: 16g mã đề, 20g thạch cao làm thuốc, 12g ma hoàng, 12g bạch truật, 12g đại táo, 8g mộc thông, 6g gừng, 6g cam thảo, 6g quế chi. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

– Chữa viêm cầu thận mãn tính: 16g mã đề, 12g hoàng bá, 12g hoàng liên, 12g phục linh, 12g rễ cỏ tranh, 8g trư linh, 8g mộc thông, 8g hoạt thạch, 8g bán hạ chế. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

– Chữa đi tiểu ra máu: 12g lá mã đề, 12g ích mẫu, giã nát, vắt nước cốt uống.

– Chữa sỏi đường tiết niệu: 20g mã đề, 30g kim tiền thảo, 20g rễ có tranh. Sắc uống ngày 1 thang hoặc hãm uống như chè nhiều lần trong ngày.

– Chữa viêm bàng quang cấp tính: 16g mã đề, 12g hoàng bá, 12g hoàng liên, 12g phục linh, 12g rễ cỏ tranh, 8g trư linh, 8g mộc thông, 8g hoạt thạch, 8g bán hạ chế. Sắc uống ngày 1 thang.

Công dụng và cách dùng cây bình bát

Bình bát là loại cây mọc hoang, được tìm thấy rất nhiều ở vùng Đông Nam Bộ. Thông thường, người ta chỉ dùng quả này để chế biến thành món bình bát dầm đá đường để làm món ăn giải nhiệt. Nhưng còn nhiều công dụng của cây bình bát mà ta chưa khám phá ra.

Bình bát còn được biết đến với các tên gọi như trái nê, trái na xiêm được trồng rất phổ biến ở vùng nhiệt đới. Bình bát là loại cây gỗ, cao khoảng 3 – 5 m và có tán rất rộng. Loại cây này có thể sinh trưởng ở vùng ngập nước vừa phải. Bình bát có dạng lá đơn, mọc so le, lá có mùi hôi đặc trưng, song trái chín thì có mùi thơm cực kì hấp dẫn. Cây bình bát thường dùng làm củi đốt và cháy khá nhanh.

Công dụng của cây bình bát mà không phải ai cũng biết

– Theo Đông y, cây bình bát nước có vị chát, ở hạt và vỏ thân có độc nhẹ. Cây có tác dụng sát trùng, chữa bệnh ngoài da

– Ăn quả bình bát chín có thể hỗ trợ trị chứng thiếu máu hay chữa được bệnh khí hư huyết trắng ở phụ nữ

– Quả bình bát xanh sấy khô, nghiền thành bột dùng chữa tiêu chảy và bệnh lỵ, giun sán, nhiễm khuẩn hô hấp khá tốt.

– Vỏ cây bình bát giã nát đắp quanh nướu răng để làm giảm nhức răng.

– Nước sắc vỏ cây bình bát được dùng như bài thuốc giải nhiệt cơ thể

– Hạt bình bát có thể chữa tiêu chảy, kiết lỵ, nhưng độc nên thường chỉ dùng ngoài da. Người ta thường lấy hạt bình bát giã nát, nấu nước đặc rồi gội đầu để diệt chấy rận.

– Hạt bình bát đốt cháy đen giã nát trộn với dầu dừa, bôi chữa ghẻ cũng rất tốt. Vỏ thân cũng có tác dụng như hạt, nhưng kém hơn và ít độc hơn

– Ở Philippine, rễ cây bình bát dùng chữa sốt, đau bụng, viêm lợi, đau răng.

– Tuy nhiên, nhựa cây có độc có thể gây kích ứng ngoài da nên phải cẩn trọng khi sử dụng. Nếu chẳng may bị độc, bạn có thể giải độc bằng chanh.

Những công dụng chữa bệnh của cây bình bát

Quả bình bát được xem là nguồn dưỡng chất nhiều nhất trong tất cả các bộ phận khác của cây. Với nhiều thành phần dinh dưỡng được tổng hợp ngay sau đây:

– Vitamin A: giúp da khỏe mạnh, hỗ trợ tăng thị lực

– Vitamin B6, magnésium, potassium, chất xơ: rất tốt cho hệ cơ tim, tiêu hóa, lợi tiểu, giảm trầm cảm, giảm acid tại các khớp xương, bệnh huyết trắng ở phụ nữ.

– Vitamin C: ngăn ngừa quá trình lão hóa.

Ngoài công dụng chữa lao phổi bằng cây bình bát, toàn cây bình bát có vị chát, hạt và vỏ thân chứa chất cực độc, thường được điều chế thành thuốc sát trùng. Những bộ phận khác của cây cũng được tận dụng tối đa để chữa bệnh:

– Lá: sắc lấy nước uống trị giun sán, áp xe, loét, mụn nhọt

– Quả: ăn nhiều chữa bệnh khí hư, thiếu máu, tiêu chảy, bệnh lý.

– Vỏ cây: giã nát lượng nhỏ và đắp quanh nướu răng giảm đau nhức.

– Hạt: đốt thành tro trộn với dầu dừa dùng trị ghẻ lỡ.

Cách dùng cây bình bát trị bệnh lao phổi hiệu quả

Những gì bạn cần: 1 nắm lá bình bát, 1.5 lít nước sạch

– Bạn nên thực hiện theo hướng dẫn như sau:

  • Thái nhỏ lá thành từng sợi mỏng rồi cho vào nồi nước
  • Dìm lá chìm xuống dưới mặt nước rồi đun với lửa nhỏ
  • Đợi đến khi thuốc sắc lại thành 1 cốc nước.

– Để đạt hiệu quả cao nhất khi dùng cây bình bát chữa lao phổi, bạn nên: chia cốc nước thành 2 phần bằng nhau và uống ngay trong ngày sau mỗi bữa ăn.

Ngoài cách dầm đá đường đơn giản thì người ta còn dùng nạc bình bát (bỏ hột) để làm kem lạnh. Cho 75 gr đường cát vào nồi nấu tan, bớt lửa để riu riu trong vòng 10 phút đến khi đường sệt lại thành si rô, bắc xuống để hơi nguội và cho vào nạc bình bát, cho vào máy sinh tố xay nhuyễn. Đổ vào khuôn, cho vào tủ đông khoảng hai tiếng đồng hồ. Mang ra ngoài dùng nĩa đánh tan, bỏ lại vào tủ đông cho đến khi cứng hẳn. Cũng có thể làm nước xốt bình bát ăn kèm với các món cà ri hay cá.

Những công dụng chữa bệnh của cây bìm bịp

Theo y học cổ truyền, cây bìm bịp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh can (mát gan), lợi đảm (tăng tiết mật), khử ứ, tiêu thũng, chỉ thống (chống đau).

Cây bìm bịp (tên khoa học là Clinacanthus nutans, có tên khác là xương khỉ, mảnh cộng). Đây là loại cây nhỏ, mọc thành bụi, có thể cao tới 3m. Lá nguyên, cuống ngắn, lá mặt hơi nhẵn, màu xanh thẫm. Cây được mọc hoang khá phổ biến ở rất nhiều vùng nông thôn Việt Nam và Châu Á. Hoa màu đỏ hay màu hồng, rủ xuống ở ngọn; tràng hoa có hai môi, môi dưới có 3 răng; bao phấn vàng xanh, quả hình trùy dài khoảng 1,5cm, cuống ngắn, chứa 4 hạt.

Các nghiên cứu còn cho thấy cây bìm bịp chứa nhiều sinh tố, khoáng chất, tanin, flavon, glycosid, của cerebrosid và glycerol có tác dụng trị mụn rộp ở mép, miệng.

Công dụng của cây bìm bịp

– Theo y học cổ truyền, cây bìm bịp có vị ngọt, tính bình, mùi thơm; có tác dụng mát gan, tăng tiết mật, tiêu thũng, chống đau.

– Ở nước ta, cây bìm bịp còn được trồng để làm thuốc hoặc chế biến món ăn nên rất quen thuộc với nhiều người. Để sử dụng cây bìm bịp làm thuốc, người ta thường thu hái thân lá đem về dùng khi còn tươi hoặc phơi khô để dành.

– Tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh Ung thư (Đây là tác dụng đáng quý nhất của cây bìm bịp, bởi hiện nay cây thuốc có tác dụng với bệnh ung thư không nhiều và chỉ tính trên đầu ngón tay).

– Tác dụng mát gan, lợi mật

– Tác dụng hỗ trợ điều trị viêm Gan, vàng da

– Tác dụng điều trị phong thấp, đau nhức xương khớp

– Tác dụng chóng liền xương (Do gãy xương)

– Giúp cơ thể lợi tiểu, giải độc tố, nâng cao sức đề kháng cơ thể; giúp an thần, dưỡng tâm.

  • Những cách sử dụng cây bìm bịp
  • Sắc nước uống:

Nếu chúng ta không có sẵn lá tươi tại vườn thì cũng có thể mua lá khô ở các cửa hàng thuốc nam uy tín, sau đó về phân theo liều lượng và sử dụng nấu nước uống hàng ngày. Mỗi ngày, bạn lấy từ 80-100gr lá cây bìm bịp khô, đem nấu với 1,5 lít nước uống trong ngày.

  • Sử dụng lá tươi:

– Nếu bạn có sẵn lá tươi tại vườn thì mỗi ngày lấy từ 10-15 lá tươi, đem rửa sạch, bỏ vào cối xoay nhuyễn, lọc lấy nước, mỗi ngày uống 2 ly để hỗ trợ điều trị bệnh

– Đối với người bị chấn thương thì lấy lá tươi giã, lọc nước uống, bã đắp lên vết thương, cứ cách 5 tiếng thay gạt 1 lần.

– Một số vùng, rau bìm bịp được dùng ăn kèm với lẩu hoặc để nấu canh, hay dùng lá để làm bánh, gọi là bánh mảng cộng, nhằm bổ sung nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể.

Những bài thuốc chữa bệnh của cây bìm bịp

  • Hỗ trợ điều trị ung thư:

Bạn lấy khoảng 100g cây bìm bip khô, nấu với 1 lít nước, sử dụng uống trong ngày.

Ngoài ra có thể phối hợp với một số loại cây dân gian khác có tác dụng điều trị bệnh ung thư như: rễ bồ công anh, xáo tam phân, trinh nữ hoàng cung, lá đu đủ đực…

  • Dùng điều trị cho bệnh nhân viêm gan, sạm dạ, vàng da:

Cây bìm bịp 30g (khô), râu ngô 20g, sâm đại hành 10g, lá vọng cách 15g, trần bì 15g, sắc với 1,5 lít nước, đun sôi trong vòng 30 phút, sắc còn 800ml, chia làm 3 lần để uống trong ngày.

  • Dùng trị bệnh phong thấp, đau khớp xương mãn tính:

Cây bìm bịp 30g, tầm gửi dâu 20g, cây gối hạc 20g, cây cổ trâu 20g. Các vị đem sắc với 1,5 lít nước, cạn còn 800ml chia ra 3 lần uống trong ngày, sau bữa ăn. Tuân thủ liệu trình điều trị trong vòng từ 5-15 ngày để đạt hiệu quả cao.

  • Trị bong gân, xưng đau, gãy xương (dùng cây tươi):

Bìm bịp tươi 80g, ngải cứu, sâm đại hành mỗi vị 50g. Đem xào nóng với giấm rồi đắp vào vết thương, lấy vải buộc lại để trong thời gian 5-6 tiếng. Day trì liên tục 5-10 ngày sẽ có kết quả.

  • Chữa thoái hóa cột sống, gai cột sống:

Dùng 80g(tươi) lá cây bìm bịp, 50g(tươi) ngải cứu và 50g(tươi) củ sâm đại hành; tất cả giã nhuyễn, xào nóng với giấm, để âm ấm đắp vào chỗ đau nhức mỗi tối trước khi đi ngủ, băng lại cố định, làm liên tục từ 5-10 ngày và kết hợp với thuốc sắc sẽ nhanh chóng có hiệu quả.

  • Chữa lở miệng ở trẻ em, người lớn: 

Dùng 20-60g lá bìm bịp, rửa sạch, cho thêm chút nước giã nát, lọc lấy nước ngậm và nuốt dần trong ngày.

Công dụng của cây bút mọc

Những lần đến thăm nhà sàn và ao cá Bác Hồ, nếu không được giới thiệu, chắc hẳn hầu hết mọi người sẽ ngạc nhiên trước những rẽ cây lạ trồi cao khỏi mặt đất, tựa như những pho tượng Phật bằng gỗ mộc, kích thước to, nhỏ, cao thấp đa dạng, lô nhô xếp liền nhau tạo ra một sự kỳ thú của cảnh quan tự nhiên. Đó chính là cây bút mọc, bây giờ chúng ta cùng đi tìm hiểu cây bút mọc có công dụng gì?

Cây bụt mọc có nguồn gốc đến từ Bắc Mỹ (Tây Nam Mỹ và Mêhicô) được nhập vào trồng làm cảnh ở nước ta, tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Cây có rễ thớ hình trụ cao thấp khác nhau. Có thể nhân giống bằng hạt. Cũng thường được trồng làm cây cảnh trong chậu.

Cây lớn có thể cao đến 40-50m, rụng lá cùng với cành. Cành xoè rộng, tán hình trụ tròn; có rễ khí sinh nổi rõ trên mặt đất. Vỏ cây màu nâu nhạt, nứt rạn dọc. Lá hình dải, mọc so le, xếp thành hai dãy trên một mặt phẳng. Nón đơn tính cùng gốc. Nón đực cụm thành chuỳ ở đầu cành; nón cái mọc riêng lẻ ở đầu những cành hai năm. Nón quả hình cầu hay hình trứng dài 20-35mm; vẩy nón quả dày, hoá gỗ, hình khiên, lá bắc không rõ; mỗi vẩy mang hai hạt dẹp hình ba cạnh, có 3 cánh dày.

Một số giống cây bụt mọc phổ biến

Cây bụt mọc có rất nhiều loại khác nhau và cũng có muôn hình muôn vẻ, chắc chắn sẽ chinh phục được bất cứ người chơi hoa khó tính nào.

  • Taxodium distichum – Bụt mọc

Loài phổ biến nhất trong chi là bụt mọc, sinh sống chủ yếu ở đông nam Hoa Kỳ, từ Delaware tới Texas và trong đất liền tới sông Mississippi và miền nam Indiana. Loài này chủ yếu sinh sống dọc theo các con sông với đất giàu phù sa do ngập lụt.

  • Taxodium ascendens – Bụt mọc ao

Bụt mọc ao cũng sinh sống trong khu vực cùng với bụt mọc, nhưng chỉ có ở khu vực đồng bằng ven biển phía đông nam, từ Bắc Carolina tới Louisiana. Nó xuất hiện trong các sông nước đen chảy chậm, ao hồ và đầm lầy mà không có các trầm tích ngập lụt giàu phù sa.

-Taxodium mucronatum – Bụt mọc Montezuma

Bụt mọc Montezuma có từ khu vực Rio Grande về phía nam tới các cao nguyên ở miền nam Mexico, và khác với hai loài nói trên ở chỗ nó là thường xanh. Một cây tại Santa Maria del Tule ở bang Oaxaca, với tên gọi Árbol del Tule, cao 43 m và có đường kính thân cây lớn nhất trong số các cây gỗ còn sinh tồn (11,42 m). Các cây trong loài này mọc ven sông (sinh sống ven hai bờ sông suối), chứ không phải các đầm lầy như bụt mọc và bụt mọc ao.

Những công dụng mà cây bụt mọc mang lại cho chúng ta

Thân: Thân cây gỗ lớn có thể cao tới 50m, lá rụng cùng với cành. Cành xòe rộng, tán có hình trụ tròn. Vỏ cây rạn nứt theo chiều dọc và có màu nâu nhạt.

Rễ: Rễ sinh nổi rõ trên mặt đất.

Lá: Lá mọc so le với nhau xếp thành hai dãy nằm trên cùng một mặt phẳng, lá có hình dải. Còn lá bắc thì không rõ.

Nón Quả ( Conus Taxodii): Nón mọc đơn tính cùng gốc, nón đực hình thành cụm thùy ở đầu cành rủ xuống và làm nhiệm vụ phát tán phấn hoa vào đầu mùa xuân. Nón cái thì mọc riêng lẻ ở đầu những cành có tuổi khoảng 2 năm. Nón quả có hình cầu, hình trứng đường kính từ 2 – 3.5 cm, , vẩy của nón quả có hình khiên, khi già sẽ hóa gỗ, vảy nón quả dày. Với mỗi nón gồm từ 10 – 25 vảy. Mỗi vảy mang theo hai hạt dẹp có hình 3 cạnh và có 3 cánh dày.

– Vỏ và thân cây nghiền vụn có tác dụng làm lớp phủ bồi trong nông nghiệp. Tốc độ thu hoạch của loại sản phẩm này hiện không xác nhận được và gây ra một số tổn thất môi trường đáng kể, đặc biệt ở khu vực miền nam Hoa Kỳ nơi các ranh giới đốn hạ cây mà chưa có quy định tuân thủ chặt chẽ.

Trước đây gỗ bụt mọc cũng được sử dụng nhiều để làm ván ốp.

– Nón quả có tính lợi tiểu có thể sử dụng để trị bệnh thấp khớp.

– Các loài bụt mọc được đánh giá cao vì gỗ của chúng, trong đó phần gỗ lõi có khả năng chống chịu mối mọt rất cao, với ngoại lệ đáng chú ý là một loài nấm ký sinh (Stereum taxodii), làm cho một số cây bị thương tổn trở thành rỗng ruột và vì thế không cung cấp gỗ có giá trị.

– Gỗ bụt mọc đã từng được sử dụng nhiều trong thời gian trước đây tại Đông Nam Hoa Kỳ để làm ván ốp. Lớp vỏ thân cây được nghiền vụn của chúng được dùng làm lớp phủ bổi trong nông nghiệp, mặc dù tốc độ thu hoạch hiện tại của sản phẩm này là không xác nhận được và gây ra các tổn thất môi trường đáng kể, đặc biệt là tại khu vực miền nam Hoa Kỳ, nơi mà các ranh giới đốn hạ không được tuân thủ chặt chẽ.

6 Công dụng của cây bồ công anh

Cây bồ công anh là vị thuốc quý trong dân gian, có thể chữa được nhiều bệnh như tắc tia sữa, tiêu độc, viêm loét dạ dày và bệnh viêm phổi,…Mọi bộ phận của cây bồ công anh đều có thể dùng được, thu hoạch lá về dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô, dùng tươi tốt hơn. Cũng có thể dùng cả cây bỏ rễ, cắt nhỏ, phơi khô để dùng.

Bồ công anh mọc hoang nhiều ở các tỉnh phía Bắc và những nơi vùng núi cao như Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa… Thu hái vào giữa tháng 4 đến tháng 5 là thời kỳ có vị đắng nhiều nhất. Dùng toàn cây phơi trong râm cho khô.

Bồ công anh có vị ngọt hơi đắng, tính bình hơi hàn làm cho mát huyết, giải nhiệt. Vào kinh Can, Vị, Dương minh Vị và Thái âm Phế.

Công dụng đến từ rễ cây bồ công anh

  • Hỗ trợ tiêu hóa

Rễ bồ công anh sở hữu đặc tính nhuận tràng, chứa các inulin và chất nhầy, từ đó có tác dụng làm dịu đường tiêu hóa.
Ngoài ra, các chất chống oxy hóa của loại cây cỏ này giúp cho hấp thu các độc tố từ thực phẩm và kích thích sự tăng trưởng các vi khuẩn ruột có ích đồng thời ức chế và ngăn cản vi khuẩn đường ruột có hại. Thường xuyên uống nước trà rễ bồ công anh tươi sẽ giúp bạn có một hệ tiêu hóa khỏe mạnh hơn.

  • Thải độc gan

Bồ công anh cải thiện các chức năng của gan thông qua việc kích thích gan một cách tự nhiên và thúc đẩy tiêu hóa. Nhờ các chất oxy hóa mà rễ bồ công anh có thể loại bỏ độc tố tích tụ lâu ngày trong gan, giúp tái cân bằng điện giải và tái lập các hydrat.

  • Giảm huyết áp cao

Đối với những người bị huyết áp cao, rễ bồ công anh được biết đến là loại “thuốc”đặc biệt hiệu quả để hạ huyết áp xuống mức an toàn. Bởi loại rễ này chứa kali để ổn định huyết áp.

  • Điều hòa đường huyết

Một lợi ích sức khỏe tuyệt vời của rễ bồ công anh là nó kích thích tuyến tụy sản xuất insulin.
Ngoài ra, loại cây này còn được coi là một loại thuốc lợi tiểu tự nhiên, giúp loại bỏ lượng đường dư thừa ra khỏi cơ thể và cũng như loại bỏ đường bị tích tụ trong thận mà hầu hết các bệnh nhân tiểu đường đều mắc.

  • Ngăn ngừa ung thư

Một trong những lợi ích quan trọng nhất đó là bồ công anh có tác dụng phòng ngừa ung thư, đặc biệt là ung thư vú và tuyến tiền liệt.

  • Ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu

Do tính chất lợi tiểu, bồ công anh tốt cho hệ tiết niệu; giải độc và làm sạch thận; kích thích tăng trưởng các lợi khuẩn trong hệ tiết niệu; ức chế vi khuẩn có hại nhờ các đặc tính tẩy bỏ của bồ công anh.
Bạn có thể sử dụng bằng cách uống trà hoặc thêm vào bữa cơm hàng ngày.

  • Tăng cường hệ miễn dịch

Một lợi ích đáng ghi nhận nữa của rễ bồ công anh là tăng cường hệ miễn dịch. Các hợp chất trong loại rễ này thúc đẩy khả năng miễn dịch, từ đó bảo vệ cơ thể khỏi các loại nhiễm trùng.

Một số công dụng chữa bệnh của cây bồ công anh

– Chữa sưng vú, tắc tia sữa: 20-40g lá tươi, rửa sạch, thêm ít muối, giã nát, vắt lấy nước uống, bã đắp lên chỗ vú sưng đau, ngày 1- 2 lần. Hoặc Bồ công anh 120g, Sài đất 80g, lá Quýt hôi 40g, nước 60ml sắc còn 200ml, chia 2 lần uống sáng và tối.

– Chữa đau dạ dày: Bồ công anh 20g, lá Khôi 15g, lá Khổ sâm 10g, nước 300ml, đun sôi 15 phút, thêm chút đường đủ ngọt, uống 1 ngày 1 thang. Uống đợt 10 ngày, nghỉ 3 ngày rồi uống tiếp, uống đến khi khỏi bệnh.

– Viêm loét dạ dày, tá tràng: Bồ công anh 40g, lá Khôi, Nghệ vàng 20g, Mai mực 10g, Cam thảo 5g. Sắc uống ngày một thang.

– Mắt đau sưng đỏ: Bồ công anh 40g, Dành dành 12g. Sắc uống ngày một thang.

– Mụn nhọt: Bồ công anh 40g, Bèo cái 50g, Sài đất 20g. Sắc uống ngày một thang.

– Viêm họng: Bồ công anh 40g, Kim ngân hoa 20g, Cam thảo Nam 10g. Sắc uống ngày một thang.

– Viêm phổi, phế quản: Bồ công anh 40g, vỏ rễ Dâu 20g, hạt Tía tô 10g, Kim ngân hoa 20g, Cam thảo Nam 10g. Sắc uống ngày một thang.