Công dụng của Actiso

Actiso

1. Tên khoa học: Cynara scolymus L.,

2. Họ:  Cúc (Asteraceae).

3. Tên khác:

4. Mô tả thực vật:

Cây thảo cao 1-1,2m, thân cây có lông mềm và có khía dọc. Lá to dìa, mọc so le; phiến lá ở gốc chia thuỳ lông chim 2-3 lần, các lá ở ngọn gần như nguyên, mặt trên màu lục, mặt dưới có lông trắng, cuống lá to và ngắn. Cụm hoa hình đầu ở ngọn các nhánh của thân, gồm nhiều hoa hình ống màu lam tím đính trên một đế hoa nạc đường kính 6-15cm, được bao bởi nhiều lá bắc ở gốc, có chóp nhọn. Quả bế nhẵn với các tơ trắng dài hơn quả và dính nhau ở gốc, thành vòng dễ tách ra khi quả chín. Hạt không có nội nhũ.

Mùa hoa: tháng 12-2.

5. Phân bố:
Cây được người Pháp mang sang Việt Nam từ thế kỷ 19 trồng ở những nơi núi cao có khí hậu mát như Sapa, Mường Khương (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc)…6. Trồng trọt:

 Áctisô ưa khí hậu lạnh mát quanh năm. Nhiệt độ thích hợp khoảng 15-18oC. Ở Việt Nam thường trồng ở độ cao 1.000 – 1.500m so với mặt biển. Ở độ cao này, cây có thể sống nhiều năm, vừa sản xuất giống, vừa cung cấp dược liệu. Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, có thể trồng Ác ti sô vào vụ đồng xuân. Ác ti sô là cay sinh trưởng mạnh, cho nên cần chọn đất màu dày, thoát nước và bón nhiều phân.
Trồng Ác ti sô bằng hạt và mầm nhánh. Trồng ở miền núi cao mát, cây vừa ra hoa quả, vừa đẻ mầm nhánh xung quanh gốc. Ở miền núi các tỉnh phía Bắc, có thể gieo hạt vào tháng 1,2 hoặc vào cuối thu (tháng 9,10). Tuổi ở vườn ươm là 45-50 ngày. Khi cây có lá xẻ lông chim có thể đánh trồng.
Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, gieo vào đầu tháng 10, đánh trồng vào hạ tuần tháng 11.
Sau khi làm đất nhỏ, lên luống cao 20-25cm, mặt luống rộng 40cm, bổ hốc thánh một hàng giữa luống. Hốc cách nhau 70-80cm. Dùng phân chuồng mục 10-15 tấn/ha, bón lót. Mỗi ha trồng khoảng 10.000 cây, thúc nước phân chuồng hoặc phân đạm 2-3 lần tuỳ tình hình sinh trưởng của cây, tưới thúc lần thứ nhất sau khi trồng độ 15 ngày, lần thứ 2 cách lần thứ nhất 20 ngày. Có thể dùng đạm urê 80-100kg/ha cho mỗi lần tưới. Làm cỏ vun xới kết hợp khi tưới thúc. Về sau, mỗi tháng làm corvun xới một lần cho đến khi cây giao tán. Ở đồng bằng và trung du bắc bộ, khoảng đầu tháng 2 có thể ngừng chăm sóc.
Ở miền núi, có thể trồng Ác ti sô một lần và thu hoạch trong 2-3 năm. Cây mẹ lụi đi, cây con lại tiếp tục phát triển. Sau khi trồng 3 tháng, có thể bắt đầu thu hái. Dùng dao sắc tỉa lá. Tuỳ khả năng chăm sóc, mỗi năm có thể thu hái 2-3 lần. Sau mỗi lần thu hái, cần bón thúc, làm cỏ và vun xới.
Ở đồng bằng, thường thu hái một lần vào tháng 4-5 tuỳ tình hình thời tiết.
Cắt toàn bộ thân lá về xử lý, có thể dùng cả rễ làm thuốc. Dùng hơi nước sôi có áp lực cao để xử lý nhanh thân lá. Sau đó phơi hoặc sấy khô.
Khả năng di thực: Cây Áctisô có khả năng phát triển tốt ở những vùng có khí hậu mát mẻ như Sapa.
Khả năng phát triển vùng chuyên canh: Hiện nay, người ta đã triển khai vùng chuyên canh cây Ác ti sô tại một số nơi như Sapa. Chỉ cần có khí hậu phù hợp là loài cây này sẽ phát triển dễ dàng.

7. Thu hái chế biến:
Thu hái cụm hoa chưa nở làm rau ăn vào tháng 12-2. Còn lá được thu hái lúc cây sắp ra hoa hoặc đang có hoa. Rọc bỏ sống lá đem phơi nắng hoặc sấy khô.

8. Bộ phận dùng :

Lá (Folium Cynarae scolymi)
Hoa (Flos Cynarae scolym

9. Thành phần hoá học:

Cụm hoa chứa protid: 3%, lipid: 0,1-0,3%, đường: 11-15,5% (gồm chủ yếu là Inulin, cần cho người bị bệnh đái đường), 82% nước; còn có các vitamin A, B1, B2, C và các chất khoáng mangan, phospho, sắt. 100g hoa Áctisô cung cấp cho cơ thể 50-70 calo.
Lá cây chứa một chất kết tinh là một glycosid có tên Cynarin có công thức C25H24O12.H2O, mang hai phân tử acid cafeic và một phân tử acid quinic. Trong lá cây tươi còn có tanin, hai heterosid flavonic là cyanosid và một chất không tan trong ether gọi là scolymosid.

10. Công năng:

Chống lão hóa, giải độc, hạ mỡ máu, mát gan, lợi tiểu.

11. Công dụng:

Bông Áctisô bổ dưỡng, kích thích tiêu hoá, bổ gan, trợ tim, lợi tiểu, chống độc, tăng tiết sữa, giảm đau dạ dày, rất cần cho những người bị đái tháo đường.
Thân lá chữa thiểu năng gan, vàng da, hạ cholesterol máu, vữa xơ động mạch, thừa urê huyết, thống phong, thấp khớp, sỏi niệu đạo, thuỷ thũng, làm tăng sự bài niệu. Áctisô là cây thuốc lợi mật được biết từ nhiều thế kỷ.
Có thể nói vị Áctisô và các chế phẩm của nó tạo nên một nhân tố kinh điển của thực vật liệu pháp nhằm kích thích sự bài tiết mật, kích thích tiêu hoá và tăng cường các chức năng bài tiết thận và tiêu hoá.
Cách dùng: Người ta sử dụng Áctisô dưới nhiều dạng, có thể dùng tươi hay khô hãm uống, sắc nước uống hặc nấu thành cao lỏng, cao mềm. Còn có dạng chiết tươi bằng cồn hoặc làm cồn thuốc.

12. Cách dùng, liều lượng:

Ngày 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay chè thuốc, cao mềm, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Trên thị trường có chế phẩm cao actiso dưới dạng viên nang và các chế phẩm dạng trà thuốc

 

Theo hocvienquany

 

 

Công dụng của Cây thảo (Scoparia dulcis L)

Cây thảo (Scoparia dulcis L)

1. Tên khoa học: Scoparia dulcis L.

2. Họ: Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).

3. Tên khác: Dã cam thảo, Cam thảo nam

4. Mô tả:

Cây thảo mọc thẳng đứng, cao 30-80cm, có thân nhẵn hoá gỗ ở gốc và rễ to hình trụ. Lá đơn mọc đối hay mọc vòng ba lá một, phiến lá hình mác hay hình trứng có ít răng cưa ở nửa trên, không lông. Hoa nhỏ, màu trắng, mọc riêng lẻ hay thành từng đôi ở nách lá. Quả nang nhỏ chứa nhiều hạt. Ra hoa quả vào tháng 5-7.

5. Phân bố:

Loài liên nhiệt đới mọc khắp nơi ở đất hoang ven các đường đi, bờ ruộng.

6. Trồng trọt:

7. Bộ phận dùng:

Toàn cây (Herba Scopariae dulcis)

8. Thu hái, chế biến:

Vào mùa xuân hè, thu hái toàn cây rửa sạch, thái nhỏ dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô để dùng dần.

Loại bỏ tạp chất, cắt đoạn, vi sao.

9. Thành phần hóa học:

Cây chứa một alcaloid và một chất đắng; còn có nhiều acid silicic và một hoạt chất gọi là amellin. Phần cây trên mặt đất chứa một chất dầu sền sệt, mà trong thành phần có dulciol, scopariol, (+) manitol, glucose. Rễ chứa (+) manitol, tanin, alcaloid, một hợp chất triterpen. Vỏ rễ chứa hexcoxinol, b-sitosterol và (+) manitol.

10. Tác dụng dược lý:

Amellin trong cây là một chất chống bệnh đái đường, dùng uống làm giảm đường – huyết và các triệu chứng của bệnh đái đường và tăng hồng cầu. Nó cũng ngăn cản sự tiêu hao mô và dẫn đến sự tiêu thụ tốt hơn protein trong chế độ ăn, làm giảm mỡ trong mô mỡ và thúc đẩy quá trình hàn liền vết thương.

11. Công năng:

Kiện tỳ, nhuận phế, thanh nhiệt, giải độc và lợi tiểu.

12. Công dụng:

Thường dùng trị: 1. Cảm cúm, sốt, nóng nhiều, ho khan, ho có đờm; 2. Lỵ trực tràng; 3. Tê phù, phù thũng, giảm niệu. Để tươi chữa ho khan; sao thơm chữa ho đờm và tiêu sưng. Dùng ngoài, ép lấy dịch từ cây tươi trị mụn nhọt, lở ngứa, eczema.

Nước hãm lá Cam thảo đất dùng làm thuốc súc miệng và ngậm chữa đau răng. Hoạt chất amellin dùng điều trị bệnh đái đường, thiếu máu, albumin niệu, ceton niệu, viêm võng mạc, những biến chứng kèm theo đái đường và làm các vết thương mau lành.

Có thể dùng thay Cam thảo để chữa sốt, say sắn, giải độc cơ thể.

13. Cách dùng, liều lượng:

Ngày dùng 8-12g khô hoặc 20-40g tươi

14. Bài thuốc:

14.1. Lỵ trực trùng: Cam thảo đất, Rau má, lá Rau muống, Địa liền, mỗi vị 30g, sắc uống.
14.2. Cảm cúm, nóng ho: Cam thảo đất tươi 30g, Diếp cá 15g, Bạc hà 9g, sắc uống. Có thể phối hợp với Rau má, Cỏ tranh, Sài hồ nam, Mạn kinh, Kim ngân, Kinh giới.
14.3. Mụn nhọt: Cam thảo đất 20 g, kim ngân hoa 20 g, sài đất 20 g. Sắc uống ngày một thang.

14.4. Dị ứng, mề đay: Cam thảo đất 15 g, ké đầu ngựa 20 g, kim ngân hoa 20 g, lá mã đề 10 g. Sắc uống ngày một thang.

14.5. Sốt phát ban: Cam thảo đất 15 g, cỏ nhọ nồi 15 g, sài đất 15 g, củ sắn dây 20 g, lá trắc bá 12 g. Sắc uống ngày một thang.

14.6. Tiểu tiện không lợi: Cam thảo đất 15 g, hạt mã đề 12 g, râu ngô 12 g. Sắc uống ngày một thang.

14.7. Ho: Cam thảo đất 15 g, lá bồng bồng 10 g, vỏ rễ cây dâu 15 g. Sắc uống ngày một thang.

14.8. Lỵ: Cam thảo đất 15 g, lá mơ lông 15 g, cỏ seo gà 20 g. Sắc uống ngày một thang

Theo hocvienquany

 
 

 

 

Công dụng của BẠC HÀ (Herba Menthae)

BẠC HÀ (Herba Menthae)

1. Tên khoa học: Mentha arvensis L. (Bạc hà Á), hoặc Mentha piperita L. (Bạc hà Âu),

2. Họ: Bạc hà (Lamiaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

3. Tên khác:

4. Mô tả:

Cây thảo, sống lâu năm. Thân mềm, hình vuông. Loại thân ngầm mang rễ mọc bò lan, loại thân đứng mang lá, cao 30-40cm, có khi hơn, mầu xanh lục hoặc tím tía. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng. Cuống ngắn. Mép lá khía răng đều. Hoa nhỏ, mầu trắng, hồng hoặc tím hồng, mọc tụ tập ở kẽ lá thành những vòng nhiều hoa. Lá bắc nhỏ, hình dùi. Đài hình chuông có 5 răng đều nhau. Tràng có ống ngắn. Phiến tràng chia làm 4 phần gần bằng nhau, có 1 vòng lông ở phía trong. 4 nhụy bằng nhau, chi nhụy nhẵn. Quả bế có 4 hạt. Các bộ phận trên mặt đất có lông gồm lông che chở và lông bài tiết tinh dầu.

Mùa hoa quả vào tháng 7 – 10.

5. Phân bố:

Cây của vùng Âu Á ôn đới. Ở nước ta có những cây mọc hoang ở miền núi, nơi đất ẩm, mát và những chủng nhập trồng ở nhiều nơi..  

6. Trồng trọt:

Cây ưa đất xốp, tốt nhất là đất sét có nhiều mùn, ẩm ướt, thoát nước nhưng đủ độ ẩm. Đất cần làm cỏ bón phân kỹ trước, làm luống rộng, trên mỗi luống trồng 2-3 hàng. Có thể trồng quanh năm nhưng thường trồng vào 2 mùa là mùa xuân (tháng 2-3) và mùa thu (tháng 8-9), trồng vào mùa xuân cho năng suất cao nhất. Trồng bằng hạt (ít áp dụng), thân ngầm hoặc thân cây trên mặt đất, cắt đoạn dài 15-30cm. Sau 3-4 tháng có thể thu hoạch đợt đầu, thường một năm có thể cắt cây 3-4 lần; lần thứ nhất vào tháng 6-7, sau đó cần xới và bón phân, sau 2 tháng (vào cuối tháng 8 hay tháng 9) lại hái lần nữa vào lúc cây đang ra hoa nhiều. Hái về, cần bó lại từng bó, phơi chỗ mát cho khô, hoặc nếu cất tinh dầu thì cần cất ngay hoặc để hơi héo rồi cất.

7. Bộ phận dùng:

Thân, cành mang lá (Herba Menthae)

8. Thu hái, chế biến:

Thu hái vào khoảng tháng 5, 8, 11 thu hoạch lúc cây mới ra hoa, rửa sạch dùng tươi hoặc phơi trong râm cho khô.

Lấy lá Bạc hà khô, tẩm nước, để vào chỗ râm mát, khi lá cây mềm, cắt ngắn từng đoạn, phơi trong râm cho khô để dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

Rửa qua, để ráo nước, cắt ngắn chừng 2cm, phơi trong râm cho khô (Dược Liệu Việt Nam).

9. Thành phần hoá học chính:

Tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là menthol.

10. Tác dụng dược lý:

Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc Bạc hà có tác dụng ức chế đối với virus ECHO và Salmonella Typhoit (Trung Dược Học).

Tác dụng trên cơ trơn: Menthol và Menthone có tác dụng ức chế trên ruột thỏ, Menthone có tác dụng mạnh hơn (Trung Dược Học).

Ức chế đau: Tinh dầu Bạc hà và Menthol bốc hơi nhanh, gây cảm giác mát và tê tại chỗ, dùng trong trường hợp đau dây thần kinh (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Sát khuẩn mạnh: dùng trong những trường hợp ngứa của 1 số bệnh ngoài da, bệnh về tai, mũi, họng (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Ức chế hô hấp, tuần hoàn: đối với trẻ em ít tuổi, tinh dầu Bạc hà và Menthol bôi vào mũi hoặc cổ họng có thể gây hiện tượng ức chế dẫn tới ngừng thở và tim ngưng đập hoàn toàn. Người ta đã nhận xét thấy 1 số trường hợp chết do nhỏ mũi 1 giọt dầu Menthol 1% hoặc bôi vào niêm mạc mũi loại thuốc mỡ có Menthol. Vì vậy, cần hết sức thận trọng khi dùng tinh dầu Bạc hà hoặc dầu cù là cho trẻ nhỏ ít tuổi, nhất là trẻ mới đẻ (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Tác động đến nhiệt độ cơ thể: Bạc hà, tinh dầu Bạc hà hoặc Menthol uống với liều rất nhỏ có thể gây hưng phấn, làm tăng bài tiết của tuyến mồ hôi, làm nhiệt độ cơ thể hạ thấp (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Liều lớn có tác dụng kích thích tủy sống, gây tê liệt phản xạ và ngăn cản sự lên men bình thường trong ruột (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Bạc hà có tác dụng kháng vi khuẩn trong thí nghiệm In Vitro đối với các chủng vi khuẩn tả Vibrio Choreia Elto, Vibrio Choreia Inaba, Vibrio Choreia Ogawa (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Tinh dầu Bạc hà có tác dụng ức chế thần kinh trung ương do tác dụng chủ yếu của Menthol (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Tinh dầu Bạc hà làm giảm sự vận động và chống co thắt của ruột non. Các chất Menthol và Menthone ức chế sự vận động của đường tiêu hóa từ ruột xuống, có tác dụng làm gĩan mao mạch (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

11. Công năng:

Tán phong nhiệt, hạ sốt, thông mũi, chữa nhức đầu, giúp tiêu hóa, đau bụng

12. Công dụng:

Chữa cảm cúm, nhức đầu, ngạt mũi, viêm họng, kích thích tiêu hoá, chữa đau bụng, đầy bụng.

Cất tinh dầu bạc hà và chế menthol dùng để sản xuất dầu cao sao vàng, làm chất thơm cho các sản phẩm thực phẩm như bánh kẹo, thuốc đánh răng, và trong một số ngành kỹ nghệ khác.

13. Cách dùng, liều lượng:

Dùng dưới dạng thuốc xông, thuốc hãm 12-20g mỗi ngày.

14. Bài thuốc:

14.1. Cảm cúm, đau đầu, sổ mũi, dùng Bạc hà 5g, hạt Quan âm, Cúc hoa vàng mỗi vị đều 10g. Kinh giới 7g, Kim ngân hoa 15g, sắc uống.

14.2. Ðau họng: Dùng Bạc hà 5g, Ngưu bàng, Huyền sâm, Cát cánh, Camthảo mỗi vị 10g sắc uống.

Ghi chú: Phụ nữ cho con bú không nên dùng nhiều, vì nó giảm sự tiết sữa. Húng cây – Mentha arvensis L.var, javanica (Blume) Hook, là một thứ của Bạc hà thường trồng vì lá thơm, cũng dùng làm thuốc. Nó có vị cay tính ấm, có tác dụng thông phế khí, giải ban, tán hàn, giải biểu, thông thần kinh.

 

Công dụng của BẠCH ĐÀN (Folium et Oleum Eucalypti)

BẠCH ĐÀN (Folium et Oleum Eucalypti)

1. Tên khoa học: Eucalyptus sp. Loài thường dùng ở nước ta là Bạch đàn trắng (E. camaldulensis  Dehnhardt), Bạch đàn liễu (E. exserta F.V. Muell), Bạch đàn chanh (E. citriodora Hook.f),

2. Họ:Sim – Myrtaceae. 

3. Tên khác:Khuynh diệp.

4. Mô tả:

Cây: Cây Bạch đàn (Eucalyptus camaldulensis Dehn.) là cây gỗ to, vỏ mềm, bần bong thành mảng để lộ vỏ thân màu sáng, cành non có 4 cạnh, lá non mọc đối, không cuống, phiến lá hình trứng, màu lục như phủ sáp. Lá già mọc so le phiến lá hình liềm hẹp và dài hơn lá non. Phiến lá có túi tiết tinh dầu. Hoa mọc ở nách lá. Quả hình chén

Dược liêu: Lá hình mũi dáo hay hình lưỡi liềm, cuống ngắn và hơi vặn, phiến lá dài và hẹp (ở loài E. exserta) giòn và rộng hơn (ở loài E. camaldulensis), rộng 1 – 5 cm, dài 8 – 18 cm. Hai mặt lá đều có màu xanh ve ít vàng nhạt, lác đác có nhiều chấm nhỏ màu vàng. Khi soi lá trước ánh sáng thấy rất nhiều túi tiết tinh dầu nhỏ li ti. Gân cấp hai tỏa ra từ gân giữa, gặp nhau ở mép lá. Khi vò lá có mùi thơm mạnh đặc biệt, mùi dịu hơn ở loài E. camaldulensis. Vị thơm nóng, hơi đắng chát, sau có cảm giác mát và dễ chịu.

5. Phân bố:

Cây được trồng nhiều nơi ở Việt Nam.

6. Trồng trọt:

7. Bộ phận dùng:

Lá, ngọn mang lá.

8. Thành phần hoá học:

Về phương diện khai thác tinh dầu người ta thường quan tâm đến 3 nhóm chính:
1. Nhóm giàu cineol (có hàm lượng cineol trong tinh dầu > 55%) cho tinh dầu được gọi là Oleum Eucalypti

Ðại diện cho nhóm này là Eucalyptus globulus Lab. với những ưu điểm nổi bật: Hàm lượng tinh dầu và hàm lượng cineol khá cao, có thể đến 80 – 85%.

Lá có tinh dầu: 1,3 – 2,25% (E.camaldulensis) và 1,40 – 2,60% (E.exserta). Hàm lượng tinh dầu DÐVN III (2002) qui định không dưới 1,2%.
Thành phần tinh dầu: Thành phần chính là cineol. Loài E. camalduleusis có thể đạt 60 – 70%. Loài E.exserta thấp hơn 30-50%. DÐVN II (1994) qui đinh hàm lượng cineol không dưới 60%. Cũng như tinh dầu tràm, tinh dầu bạch đàn trước khi sử dụng cần được tinh chế và làm giàu cineol.

2. Nhóm giàu citronelal:cho tinh dầu Oleum Eucalipti Citriodorae

Ðại diện là E. citriodora Hook.f. với hàm lượng citronelal trên 70%
Lá có chứa một hàm lượng lớn tinh dầu (3,3 – 4,8%). Thành phần chính của tinh dầu là citronelal (trên 70%) ngoài ra còn có citronelol (5,6%).

3. Nhóm giàu piperiton:

Ðại diện là E. piperita Sm. với hàm lượng piperiton 42-48%.

9. Công dụng:

Lá: Có thể dùng lá bạch đàn trắng hoặc bạch đàn liễu để thay thế lá bạch đàn xanh (E. globulus) là loại đã được sử dụng rất lâu đời ở các nước châu Âu. Dạng dùng: Thuốc hãm, thuốc xông, hoặc pha chế thành các dạng bào chế như xiro cồn lá bạch đàn, dùng để chữa ho, sát khuẩn đường hô hấp, chữa các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, ho, hen v.v…

Tinh dầu được sử dụng như tinh dầu tràm. Tuy nhiên, đến nay Bạch đàn ở Việt Namchưa được khai thác ở qui mô công nghiệp như tràm. Còn ở phạm vi nghiên cứu thăm dò và đề xuất.

Tinh dầu bạch đàn chanh được Khoa tai – mũi – họng – bệnh viên Bạch Mai sử dụng nhiều trong những năm kháng chiến chống Mỹ để chữa ho, viêm họng, sát khuẩn đường hô hấp.

Tinh dầu còn được dùng trong kỹ nghệ hương liệu để sản xuất nước hoa và các loại chất thơm khác có mùi thơm tự nhiên của hoa, có thể thay thế tinh dầu sả Java (Cymbopogon winterianus).

Ghi chú:

Bạch đàn còn được gọi là Khuynh diệp. Có nhiều loài Bạch đàn. Phần lớn trồng lấy gỗ, một số loài trồng để khai thác tinh dầu. Nước ta đã di thực được một số loài Bạch đàn lấy tinh dầu có giá trị như Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehnhardt), Bạch đàn liễu (Eucalyptus exserta F.V.Muell), Bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora Hook.f.).

Theo Dược điển Trung Quốc (1997) tinh dầu Bạch đàn (Eucalyptus oil) được khai thác từ các cây Eucalyptus globulus Labill., họ Sim (Myrtaceae), cây Long não – Cinnamomum camphora (L.) Nees & Eberm., họ Long não (Lauraceae) và một số cây khác cùng chi của hai họ thực vật trên.

Không nhầm Bạch đàn với cây Ðàn hương (Santalum album L.), họ Ðàn hương (Santalaceae) cho gỗ làm thuốc.

 

Công dụng của Hà thủ ô trắng (Radix Streptocauli Juventatis)

Hà thủ ô trắng (Radix Streptocauli Juventatis)

HÀ THỦ Ô TRẮNG

Radix Streptocauli Juventatis

1. Tên khoa học: Streptocaulon juventas Merr.

2. Họ:Thiên lý (Asclepiadaceae).

3. Tên khác: Hà thủ ô nam, củ vú bò, dây sữa bò, dây mốc, cây sừng bò, cây đa lông, mã liên an, khau cần cà (Tày), chừa ma sìn (Thái), dây mốc, xạ ú pẹ (Dao).

4. Mô tả:

Dây leo bằng thân quấn dài 2-5m. Vỏ thân màu nâu đỏ, có nhiều lông mịn. Lá mọc đối, phiến lá nguyên, hình bầu dục, chóp lá nhọn, gốc lá tròn, dài 4-14cm, rộng 2-9cm. Hoa nhỏ, màu lục vàng nhạt, mọc thành xim ở nách lá. Quả gồm 2 đại xếp ngang ra hai bên trông như đôi sừng bò. Hạt dẹt mang một mào lông mịn. Toàn cây có nhựa mủ màu trắng như sữa. 

5. Phân bố:

Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta.

6. Trồng trọt:

Hà thủ ô trắng có khả năng thích nghi với nhiều loại đát và chịu hạn giỏi. Có được đặc điểm trên, có thể một phần do cây có nhiều lông nên chịu được điều kiện khô hạn và tránh bốc hơi, phần khác do cây có bộ rễ dạng củ ăn sâu dưới đất. Trong trường hợp cây bị đốt hoặc chặt phá, phần còn sót lại trong đất khi gặp mưa ẩm đều có khả năng tái sinh. Nguồn Hà thủ ô trắng ở nước ta rất phong phú, việc khai thác sử dụng làm thuốc còn rất hạn chế.

Khả năng phát triển vùng chuyên canh: Có khả năng phát triển trồng ở các vùng chuyên canh

7. Bộ phận dùng:

Thân rễ phơi hay sấy khô của cây Hà thủ ô trắng (Streptocaulon juventas Merr.).8. Thu hái, chế biến:

Thu hái rễ củ quanh năm. Rễ đào về, rửa sạch, thái lát dày khoảng 3cm, phơi hay sấy khô. Có thể ngâm nước vo gạo một đêm trước khi phơi hay sấy khô.

9.Thành phần hóa học:

Thân rễ  có tinh bột, nhựa đắng, tanin pyrogalic.

10. Công năng:

Bổ huyết; bổ can và thận.

11. Công dụng:

Thường dùng chữa thiếu máu, thận gan yếu, thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém, sốt rét kinh niên, phong thấp tê bại, đau nhức gân xương, kinh nguyệt không đều, bạch đới, ỉa ra máu, trừ nọc rắn cắn, bạc tóc sớm, bệnh ngoài da mẩn ngứa. Có nơi còn dùng củ và thân lá của cây để chữa cảm sốt, cảm nắng, sốt rét. Có người còn dùng dây sắc lấy nước cho phụ nữ sinh đẻ thiếu sữa uống cho có thêm sữa. Cây lá cũng được dùng đun nước tắm và rửa để chữa lở ngứa. Người ta còn dùng củ chữa cơn đau dạ dày.

12. Cách dùng, liều lượng:

Thường dùng mỗi ngày 12-20g dạng thuốc sắc. Có thể nấu cao hay ngâm rượu uống. Cành lá dùng với liều lượng nhiều hơn. Người ta cũng thường chế Hà thủ ô trắng cũng như Hà thủ ô đỏ.

13. Bài thuốc:

13.1. Bồi dưỡng cơ thể, tăng cường sức lực, chữa đau lưng mỏi gối; giúp ăn ngủ được: Đậu đen 50g, Đậu đỏ 10g, Đỗ trọng dây 50g, Ráng bay 15g, Củ sen 50g, Bố chính sâm 15g, Hà thủ ô trắng (sao muối) 50g, Phục linh 15g. Các vị hiệp chung, tán làm viên hoàn, mỗi lần uống 3g, ngày uống 3 lần. (Kinh nghiệm ở An Giang).

13.2. Bổ khí huyết, mạnh gân cốt: Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.

Kiêng kỵ:Không dùng Hà thủ ô trắng đối với người hư yếu, tạng lạnh, đồng thời kiêng ăn tiết canh lợn, cá, lươn, rau cải, hành tỏi.

 

Công dụng của Hành

Hành

1. Tên khoa học: Alium fistulosum L.

2. Họ:Hành (Liliaceae).

3. Tên khác: Thông bạch, Hành hương, Hành hoa, Hom búa (Thái), Sông (Dao). English names: Japanese leek, Welsh onion, cibol, stone leek.

4. Mô tả:

Cây thảo sống nhiều năm, cao tới 50cm, có thân hành nhỏ, trắng hay nâu, chỉ hơi phồng, rộng 0,7-1,5cm. Lá màu xanh mốc, hình trụ rỗng, có 3 cạnh ở dưới, dài đến 30cm, có bẹ lá dài bằng 1/4 phiến. Cán hoa (trục mang cụm hoa) cao bằng lá. Cụm hoa hình đầu tròn, gồm nhiều hoa có cuống ngắn; bao hoa có các mảnh hình trái xoan nhọn màu trắng có sọc xanh; bầu xanh đợt. Quả nang. Cây ra hoa vào mùa xuân, mùa hè.

5. Phân bố:

Cây được trồng khắp nơi làm gia vị và làm thuốc.

6. Trồng trọt:

Trồng trên khắp các đồng ruộng.

7. Bộ phận dùng:

Cả cây

8. Thu hái, chế biến:

Thu hái quanh năm. Khi dùng củ hành, bóc lớp vỏ ngoài, nhặt hết rễ; rửa sạch. Thường dùng tươi.

9. Bộ phận dùng:

Củ (dò) hoặc toàn cây – Bulbus seu Herba Allii; thường có tên là Thông; có khi dùng cả hạt, Thông tử.

10. Thành phần hoá học:

Củ hành chứa tinh dầu có sulfur mà thành phần chủ yếu là chất kháng sinh alliin. Còn có acid malic và các acid khác, galantin và chất allisulfit. Hạt chứa S-propenyl-L-eine sulfoxide.

11. Công năng:

Phát hãn (làm ra mồ hôi) lợi tiểu, tiêu viêm.

12. Công dụng:

Làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, chữa tê thấp, chữa cảm mạo, nhức đầu…

13. Cách dùng, liều lượng:

Mỗi lần có thể dùng 30-60g dùng dạng nước sắc hay ép lấy nước uống.

14. Bài thuốc:

14.1. Cảm mạo, nhức đầu, nghẹt mũi: Củ Hành tươi 30g, Gừng 10g sắc uống. Có thể thêm Chè hương 10g nấu nước uống khi còn đang nóng. Đắp chân cho ra mồ hôi. Có thể kết hợp dùng Hành sống 3 củ, Gừng 3 lát với Tía tô 10g thêm ít muối hoặc có thể thêm một quả trứng gà gia vào bát cháo nóng để ăn giải cảm.
14.2. Giảm niệu: Giã Hành đắp vào rốn.

14.3. Nghẽn ruột do giun đũa: Hành củ 30g nghiền ra với 30g dầu vừng và uống, mỗi ngày 2 lần.

14.4. Eczema, phát ban, loét ở chân: Hành tươi giã nát, cho nước đun sôi để rửa các phần đau, tuỳ theo kích thước của phần nhiễm bệnh mà dùng lượng hành nhiều hay ít.

14.5. Viêm mũi, nghẹt mũi: Dầm vài ba củ Hành để vào ly, chế nước sôi vào, trùm hoa giấy lên, hít vào mũi. Hoặc dùng nước Hành pha loãng nhỏ mũi.
14.6. Chữa bệnh tê thấp: Cho muối vào hành, thêm ít tương đậu nành, xào với dầu thực vật để ăn.

 

Công dụng của Gấc

Gấc

1. Tên khoa học:Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng.

2. Họ:Bầu bí (Cucurbitaceae).

3. Tên khác: Mộc miết, Muricic (Pháp), Cochinchina Momordica (Anh).

4. Mô tả:

Cây gấc là một loại dây leo, mỗi năm lụi một lần, nhưng lại đâm chồi từ gốc cũ lên vào mùa xuân năm sau. Lá mọc so le, chia thùy khía sâu tới ½ phiến lá. Hoa đực, hoa cái riêng biệt, cánh hoa màu vàng nhạt. Mùa hoa tháng 4-5. Quả hình bầu dục dài độ 15-20cm, đáy nhọn, ngoài có nhiều gai, khi chín màu vàng đỏ đẹp tươi. Mùa quả tháng 6 đến tháng 2 năm sau. Gấc nếp thì thưa gai hơn gấc tẻ. Trong quả có nhiều hạt xếp thành những hàng dọc, quanh hạt có màng màu đỏ máu, tươi. Bóc lớp màng đỏ sẽ thấy hạt hình gần giống con ba ba nhỏ, ngoài có lớp vỏ cứng, mép có răng cưa. Trong hạt có nhân trắng chứa nhiều dầu.

5. Phân bố:

Gấc mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta.

6. Trồng trọt:

Trồng bằng hạt hay dâm cành bánh tẻ vào tháng 2-3 khi tiết trời ấm áp. Cây ưa đất tơi xốp, cao ráo, nhiều mùn, ẩm mát; trồng một năm thu hoạch nhiều năm. Trồng bằng hạt đã đồ chín hay chưa đồ chín cây vẫn cho quả.

Trước khi trồng 1 tháng, đào hố sâu 30cm, rộng 30-40cm. Đổ mùn rác, phân chuồng vào hố cho ải mục, chờ thời vụ tiến hành gieo trồng. Mỗi hố gieo thẳng 4-5 hạt. Lấp đất kín hạt chừng 2-3cm. Trồng bằng hạt, phải chờ khi có hoa mới biết được cây đực hay cây cái. Sau đó, cắt bỏ cây đực, chăm sóc cây cái. Mỗi hố chỉ để lại 1-2 cây.

Muốn nhân giống có hiệu quả, cần trồng bằng cách giâm cành. Chọ cành bánh tẻ của cây gấc 2-3 tuổi. Cành dài 40-50cm, có nhiều đốt. Khoanh vòng tròn rồi đặt vào hốc đã được chuẩn bị sẵn. Lấp đất 3-5cm. Sau đó, phủ rơm rác để giữ ẩm. Giâm cành vào tháng 3-4 là thích hợp. Chú ý không làm giập nát và sát trùng ccác vết cắt bằng tro beepsd hay vôi bột. Trồng xong tưới nhẹ và giữ đất luôn ẩm và tơi xốp. Không nên tưới nhiều nước, đất quá ẩm gây thối cành giâm. Sau khi trồng độ 25-30 ngày, mầm sẽ mọc. Cần làm giàn leo kịp thời, khi cây cao 25-30cm. Có thể cho gấc leo vào cây khác nhưng sản lượng quả ít. Phải làm giàn đủ diện tích leo, hoa quả mới nhiều, giàn phải thoáng để hoa đón nhận được nhiều ánh sáng, quả sẽ ít bị thối và đỡ rụng khi còn non. Trên giàn cắt tỉa bớt cành ở chỗ dày, nếu nhiều lá cần ngắt bớt lá. hàng năm, chăm bón gấc vào mùa xuân, đầu mùa hè và sau khi thu hái quả. năm đầu, cây đã có quả nhưng ít, càng về sau càng nhiều. Quả chín bắt đầu từ tháng 8-9 và kéo dài đến tháng 1-2 năm sau. Mùa thu hoạch quả kết thúc vào teete Nguyên đán. Sau khi thu hết quả, cần cắt bớt thân hoặc các cành to chỉ để chừa lại đoạn gốc dài 50cm. Sang xuân, cây tái sinh, cành mới lại mọc cho nhiều quả và quả to. Đồng thời bón phân chuồng 5-10kg mỗi gốc tuỳ tuổi cây. Nên bón thêm phân lân và tro bếp. Gấc được trồng trên đất cao ráo, thoát nước, chăm bón chu đáo có thể sống 10-15 năm.

7. Thu hái, chế biến:

Quả chín thu hoạch vào tháng 8-2. Lấy hạt còn màng màu đỏ, phơi hoặc sấy nhẹ đến se màng. Tách riêng màng để chiết dầu. Màng hạt gấc sấy khô, tán nhỏ rồi ép như ép dầu lạc, hoặc cho vào dầu lạc hay mỡ lợn đã được đun nóng 60-70oC; nếu muốn chiết kiệt thì dùng dung môi là ether dầu hoả.

8. Bộ phận dùng:

Màng hạt, nhân hạt (Mộc miết tử – Semen Momordicae), rễ.

8.1. Hạt gấc: Còn gọi là Mộc miết tử là hạt lấy ở quả gấc chín (Semen Momordicae) đã bốc vỏ màng và chế biến khô.

8.2. Dầu gấc: (Oleum Momordicae) là dầu ép từ màng đỏ bọc hạt gấc.
8.3. Rễ gấc: Còn gọi là Phòng kỷ nam là rễ cây gấc (Radix Momordiae) phơi khô.

9. Thành phần hoá học:

Nhân hạt Gấc có khoảng 6% nước, 8,9% chất vô cơ 55,3% acid béo 16,5% protein, 2,9% đường. 1,8% tanin, 2,8% cellulose và một số enzym. Hạt gấc chứa acid momordic, gypsogenin, acid oleanolic, acid a- elacostearic, còn có acid amin, alcol. Dầu gấc chứa acid oleic 44,4%, acid linoleic 14,7%, acid stearic 7,89%, acid palmatic 33,8%. Màng hạt Gấc chứa một chất dầu màu đỏ mà thành phần chủ yếu là b-caroten và lycopen là những tiền sinh tố A khi vào cơ thể sẽ biến thành vitamin A, lượng b-caroten của Gấc cao gấp đôi của Cà rốt. Thân củ chứa chondrillasterol, cucurbitadienol, 1 glycoprotein và 2 glycosid có tác dụng hạ huyết áp. Rễ chứa momordin một saponin triterpenoid; các chiết xuất cồn có sterol, bessisterol tương đương với spinasterol.

10. Công dụng, cách dùng:

10.1. Màng gấc: Nhân dân ta dùng đồ xôi, ăn cả xôi và màng gấc.

10.2. Dầu gấc: Dầu gấc có tác dụng như những thuốc có vitamin A, dùng bôi lên các vết thương, vết loét, vết bỏng làm cho chóng lành, lên da. Uống dầu gấc, người bệnh chóng lên cân, tăng sức chống đỡ bệnh tật của cơ thể, do chất caroten dưới tác dụng của men carotenase có nhiều trong gan sẽ tách caroten thành hai phần tử vitamin A. Dùng cho trẻ em chậm lớn trong bệnh khô mắt, quáng gà. Liều dùng dầu gấc: Mỗi ngày 2 lần, uống trước 2 bữa ăn chính mỗi lần ăn chính mỗi lần 5 giọt, có thể tăng lên 25 giọt. Trẻ em 5-10 giọt 1 ngày. Dùng ngoài dưới dạng thuốc mỡ 5-10p100 dầu gấc hay bơi bằng dầu nguyên chất (chữa bỏng).

10.3. Hạt gấc: Theo Đông y, hạt gấc vị đắng, hơi ngọt, tính ấm, có độc, dùng chữa các chứng bệnh ung thũng, mụn nhọt độc, tràng nhạt, eczema, viêm da thần kinh, trĩ, phụ nữ sưng vú. Có thể chế thuốc viên hay tán bột uống. Liều uống từ 0,8-1,2g. Nhưng thường dùng đắp ngoài da đồ mụn nhọt. Nhân dân ta còn dùng để đắp chữa chai bàn chân.

10.4. Rễ gấc: Sao vàng, tán mỏng, dùng uống chữa tê thấp sưng chân gọi là Phòng kỷ nam.

10.5. Lá gấc: Viện Đông y dùng lá gấc với tầm gửi đắp ngoài ra làm thuốc tiêu sưng tấy.Chú ý: Nhân hạt gấc còn gọi là Phiên mộc miết, theo Đông y có tính rất lạnh, ăn phải thì cấm khẩu nguy hiểm.

 

Công dụng của KHẾ (Cortex, Fructus, Flos, Folium et Radix Averrhoae Carambolae)

KHẾ (Cortex, Fructus, Flos, Folium et Radix Averrhoae Carambolae)

 

1. Tên khoa học: Averrhoa carambola L.

2. Họ: Chua me đất (Oxalidaceae). 

3. Tên khác: Khế ta, Khế cơm, Khế chua, Khế giang- Ngũ lăng tử, Ngũ liêm tử- Dương đào – Carambola, Carambolier.

4. Mô tả:

Cây gỗ to, cao 4-5m, lá mọc so le, kép lông chim lẻ, dài 11-17cm; 3-5 đôi lá chét nguyên, dạng màng cứng, trái xoan, có mũi nhọn, màu lục lờ ở mặt dưới; những cái trên dài tới 8,5cm x 3,5cm. Cụm hoa ngắn, thành chùm xim, ở nách các lá, nụ hoa hình cầu. Hoa màu hồng hay tím. Đài hoa có 5 lá đài thuôn mũi mác, ngắn bằng nửa tràng. Tràng gồm 5 cánh hoa mỏng, tròn ở ngọn, dính với nhau ở 1/3 dưới, 5 nhị đối diện với các lá đài xen kẽ với 5 nhị lép. Bầu hình trứng, phủ lông tơ; 5 lá noãn tạo thành 5 ô, mỗi ô đựng 4 noãn; vòi ngắn, đầu nhuỵ phồng. Quả mọng, thuôn, màu vàng, nạc, mang đài con lai, có 5 góc lồi, không nứt ra. Mùa hoa tháng 4-8, quả tháng 10-12.

5. Phân bố:

Cây được trồng khắp nơi trong nước ta.

6. Trồng trọt:

7. Bộ phận dùng:

Vỏ, quả, hoa, lá và rễ (Cortex, Fructus, Flos, Folium et Radix Averrhoae Carambolae).8. Thu hái:

Vỏ, thân, rễ quanh năm. Thu hái hoa và quả theo thời vụ.

9. Thành phần hoá học:

Acid hữu cơ chủ yếu là acid oxalic, các yếu tố vi lượng như Ca, Fe, Na và nhất là có nhiều K. Có các vitamin A,C, B1, B2 và P.

10. Công năng:

Quả khế có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, làm long đờm và tiết nước bọt. Rễ khế có tác dụng trừ phong thấp, giảm đau. Thân và lá có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu. Hoa có tác dụng trừ sốt rét.

11. Công dụng, cách dùng: Lá chữa dị ứng: 20g lá nấu nước uống, 30-50g lá nấu nước tắm hoặc dùng lá tươi giã, đắp ngoài. Quả trị ho, đau họng: ép 100-150g quả khế tươi lấy nước uống. Rễ trị đau khớp, đau đầu mãn tính: ngày uống 10-15g dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

12. Bài thuốc:

12.1. Chữa dị ứng, mày đay, mẩn ngứa, lở loét: lấy lá khế giã nát, xoa và đắp lên chỗ bị dị ứng; kết hợp dùng 16g vỏ núc nác sắc uống. Dùng lá khế, lá thanh hao, lá long não, lá thông mỗi thứ 15-20 g, nấu nước tắm.

12.2. Sổ mũi, đau họng: Quả Khế tươi 90-120g ép lấy nước uống.

12.3. Sưng lách sinh sốt: Quả Khế tươi chiết dịch và uống với nước nóng.

12.4. Trị tóc bạc sớm: Khế chua 150g, nước dừa 200ml, mật ong. Cách làm: Khế rửa sạch, ép lấy nước rồi hòa nước khế với nước dừa, trộn thêm mật ong vừa đủ uống, uống ngày 2 lần.

12.5. Giải nhiệt: Dùng quả khế ép lấy nước uống rất tốt để giải nhiệt cũng như chống cảm nắng vào mùa hè oi nực.

12.6. Ngừa táo bón, chữa trĩ: Khế có nhiều chất xơ, có tác dụng nhuận tràng, chống táo bón.

12.7. Chữa bí tiểu: Khế chua 7 quả, mỗi quả chỉ lấy 1/3 phía gần cuống. Nấu với 600ml nước, sắc còn 300ml, uống lúc còn ấm nóng. Ở ngoài, lấy 1 quả khế và 1 củ tỏi giã nát nhuyễn, đắp vào rốn.

12.8. Chữa ho khan, ho có đờm, kiết lỵ: Hoa khế đã phơi héo, tẩm nước gừng (nước gừng đặc sẽ tốt hơn) đem sao lên. Pha hoa khế đã sao với nước nóng (như cách pha trà) và uống trong ngày.

12.9. Trị viêm họng: Lấy lá khế 40g, cùng vài hạt muối giã vắt lấy nước cốt ngậm ngày 2 lần.

12.10. Phòng sốt xuất huyết: Lá khế 16 g, lá Dâu, sắn dây, lá Tre, mã đề, Sinh địa mỗi thứ 12 g, sắc uống thay nước hằng ngày. Bài thuốc này có thể áp dụng trong thời gian có dịch.

12.11. Phòng hậu sản cho phụ nữ sau sinh: Quả khế 20 g, vỏ cây Hồng bì 30 g, rễ cây quả giun 20 g, sắc uống thay nước giúp phòng hậu sản.

12.12. Trị viêm đường tiết niệu, viêm âm đạo: Nước sắc lá khế có tác dụng ức chế vi khuẩn Gram dương, nhưng không có tác dụng trên khuẩn Gram âm, nấm candida. 
Dạng dịch chiết qua nước có tác dụng ức chế vi khuẩn mạnh nhất.

12.13. Chữa sốt cao lên cơn giật ở trẻ em: Hoa khế, hoa Kim ngân, lá Dành dành, cỏ nhọ nồi mỗi thứ 8 g, Cam thảo 4 g, Bạc hà 4 g, sắc đặc chia nhiều lần uống trong ngày.

Chú ý:

Những người bị bệnh thận cũng không nên ăn khế vì acid oxalic trong khế cũng dễ gây ra sỏi thận.

Trẻ em trong giai đoạn phát triển nên hạn chế ăn khế và những thức ăn có nhiều acid oxalic cản trở sự hấp thu canxi cần thiết cho sự phát triển của cơ thể.

 

 

Công dụng của HÀ THỦ Ô ĐỎ (Radix Fallopiae multiflorae)

HÀ THỦ Ô ĐỎ (Radix Fallopiae multiflorae)

1. Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson = Polygonum multiflorum Thunb.).

2. Họ:Rau răm (Polygonaceae).

3. Tên khác:Dạ hợp, giao đằng, thủ ô, địa tinh, khua lình (Thái), mằn năng ón (Tày), xạ ú sí (Dao)

4. Mô tả:

Cây: Dây leo, sống nhiều năm. Thân rễ phồng thành củ. Thân quấn, mọc xoắn vào nhau, mặt ngoài thân có màu xanh tía, nhẵn, có vân. Lá mọc so le, có cuống dài. Phiến lá hình tim, dài 4 – 8cm, rộng 2,5 – 5cm, đầu nhọn, mép nguyên hoặc hơi lượn sóng, cả hạị mặt đều nhẵn. Bẹ chìa mỏng, màu nâu nhạt, ôm lấy thân. Hoa tự chùm nhiều nhánh. Hoa nhỏ, đường kính 2mm, mọc cách xa nhau ở kẽ những lá bắc ngắn, mỏng. Bao hoa màu trắng, 8 nhụy (trong số đó có 3 nhụy hơi dài hơn). Bầu hoa có 3 cạnh, 3 vòi ngắn rời nhau. Đầu nhụy hình mào gà rủ xuống. Quả 3  góc, nhẵn bóng, đựng trong bao hoa còn lại, 3 bộ phận ngoài của bao hoa phát triển thành cánh rộng, mỏng, nguyên.

Dược liệu: Rễ củ hình tròn, dài, không đều, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi theo chiều dọc, hay chặt thành từng miếng to. Mặt ngoài có những chỗ lồi lõm do các nếp nhăn ăn sâu tạo thành. Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng màu nâu sẫm, mô mềm vỏ màu đỏ hồng, có nhiều bột, ở giữa có ít lõi gỗ. Vị chát.

5. Phân bố:

Cây mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình có số lượng ít hơn. Hiện nay, Hà thủ ô được trồng ở nhiều nơi vùng ở phía Bắc (Vĩnh Phú) và cả ở phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định.

6. Trồng trọt:

Hà thủ ô đỏ là cây mọc hoang ở những vùng có khí hậu mát mẻ quanh năm. Nhiệt độ thích hợp 20-25oC. Ở miền núi, có năm nhiệt độ xuống thấp về mùa đông, cây vẫn tồn tại trong đất. Lượng mưa trung bình năm 1500-1800mm, pH = 5-6,5. Đất cao ráo, ẩm, thoát nước.

Thời vụ trồng vào mùa thu (tháng 8-9) và mùa xuân (tháng 2-3). Vụ sau tốt hơn vì có mưa xuân, độ ẩm thích hợp, nhiệt độ vừa phải, cây chóng nẩy mầm.

Chọn đất cao ráo, thoát nước, tơi xốp, nhiều mùn, giàu chất dinh dưỡng. đất được cày bừa hay cuốc để ải, vơ sạch cỏ và rễ cây, đánh luống cao 25-30cm, rộng 30-40cm, nếu trồng 1 hàng như khoai lang, hoặc 70-80cm nếu trồng 2 hàng.

Hà thủ ô đỏ là cây cho củ, nên cần nhiều tro mùn, phân chuongf mục có thể bón lót 20-30 tấn/ha, không nên trồng chay. Thành phần chủ yếu gồm lân, kali, còn phân đạm để bón thúc cùng với phân chuồng, nước giải pha loãng vào tháng 4,5,6.

Có thể trồng bằng củ đường kính 3-5cm. Đặt mầm củ vào từng hốc, trên luống sau khi đã bón phân lót, rồi vùi đất cho thật chặt, khoảng cách 30-35cm. Tưới nước.

Có thể trồng bằng dây. Lấy các đoạn dây bánh tẻ cso nhiều đốt, hay các đoạn thân sát mặt đất có nhiều mầm. Cắt từng đoạn dài 30-40cm, đặt xuống rạc luống như trồng khoai lang với khoảng cách 30-35cm. Sau đó lấp đất ấn chặt, chỉ độ 1/2-1/3 dây thò lên mặt đất. Cách trồng bằng dây phổ biến hơn trồng bằng củ vì hết ít vốn, vận chuyển dễ, chóng thu hoạch và hệ số nhân giống cao. Hà thủ ô đỏ là dây leo, cho nên phải làm giàn. Hàng tháng, cần làm cỏ, xáo xới cho đất thoáng, tơi xốp, kết hợp với bón thúc như nước phân, nước giải, phân đạm pha loãng. Bón vào các tháng khi cây đang đẻ nhánh và phát triển như 2 tháng tuổi, 3 tháng tuổi và 5 tháng tuổi.

Trồng Hà thủ ô đỏ khoảng 2-3 năm là có thể thu hoạch. Nếu để quá lâu nhất là ở đất ruộng, củ dễ bị thối hỏng.

7. Bộ phận dùng:

Rễ củ phơi hay sấy khô của cây Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson).8. Thu hái, chế biến:

Thu hoạch vào mùa thu, khi lá khô úa, đào lấy củ cắt bỏ hai đầu, rửa sạch, củ to cắt thành miếng, phơi hay sấy khô. Nếu đồ chín rồi phơi thì tốt hơn.

Thu hoạch cây mọc hoang vào mùa thu. Thu hoạch cây trồng vào mùa đông khi cây đã tàn lụi. Đào về rửa sạch, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ ra, đồ rồi phơi hoặc sấy khô. Khi dùng nấu với nước đậu đen, có nhiều cách làm:

Đỗ đen giã nát cùng ngâm với hà thủ ô đã thái miếng trong một đêm, sáng ra đem đồ lên rồi phơi nắng, lại ngâm đỗ đen trong một đêm rồi lại đồ, phơi. Làm như vậy 9 lần (đông y gọi là cửu chưng cửu sái).

Củ hà thủ ô ngâm với nước vo gạo 24 giờ, rửa lại rồi cho vào nồi, cứ 10kg hà thủ ô, cho 100g đỗ đen và 2 lít nước. Nấu đến khi gần cạn, đảo luôn cho chín đều. Khi củ đã mềm, lấy ra bỏ lõi. Nếu còn nước đỗ đen thì tẩm phơi cho hết. Đồ, phơi được 9 lần là tốt nhất.

9. Thành phần hoá học:

Củ hà thủ ô chứa 1,7% anthraglycosid, trong đó có emodin, physcion, rhein, chrysophanol. 1,1% protid, 45,2% tinh bột, 3,1% lipid, 4,5% chất vô cơ, 26,45 các chất tan trong nước, lecitin, rhaponticin (rhapontin, ponticin).

Lúc chưa chế, hà thủ ô chứa 7,68% tanin, 0,25% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,8058% dẫn chất anthraquinon toàn phần. Sau khi chế, còn 3,82% tanin, 0,1127% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,2496% dẫn chất anthraquinon toàn phần.

10. Tác dụng dược lý:

10.1. Hà thủ ô có tác dụng hạ Cholesterol huyết thanh, được chứng minh rõ trên mô hình gây cholesterol cao ở thỏ nhà, thuốc còn có tác dụng làm giảm hấp thu cholesterol của ruột thỏ, theo tác giả, thuốc có thành phần hữu hiệu kết hợp với cholesterol (Tân y học, 5 – 6, 1972). Thuốc có tác dụng phòng chống và giảm nhẹ xơ cứng động mạch. Có thể tác dụng giảm xơ cứng động mạch và do thuốc có thành phần Lecithin (Tân y học, 5 – 6, 1972).

10.2. Thuốc làm chậm nhịp tim. Làm tăng nhẹ lưu lượng máu động mạch vành và bảo vệ được cơ tim thiếu máu.

10.3. Thuốc giữ được tuyến ức của chuột nhắt già không bị teo mà giữ được mức như lúc chuột còn non, tác dụng này có ý nghĩa chống lão hóa nhưng cơ chế còn cần nghiên cứu thêm.

10.4. Thuốc có tác dụng nhuận tràng do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột (Trích yếu văn kiện nghiên cứu Trung dược – Nhà xuất bản Khoa học xuất bản 1965, trang 345 – 346). Hà thủ ô sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn Hà thủ ô chín.

10.5. Tác dụng kháng khuẩn và virus: thuốc có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn lao ở người và trực khuẩn lỵ Flexner. Thuốc có tác dụng ức chế virus cúm (Học báo Vi sinh vật 8,164, 1960).

11. Công năng:

Bổ huyết giữ tinh, hoà khí huyết, bổ can thận, mạnh gân xương, nhuận tràng.

12. Công dụng:

Bổ máu, chống viêm. Chữa thận suy, yếu gan; thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém; sốt rét mạn tính, thiếu máu, ít sữa; các bệnh của phụ nữ sau khi đẻ, xích bạch đới; đau lưng, thấp khớp, di tinh, khí hư, đại tiện ra máu; đái buốt, đái dắt, đái ra máu (lao lâm); mẩn ngứa, bệnh ngoài da.

Uống lâu ngày chữa người già xơ cứng mạch máu não, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con; chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, hồi hộp chóng mặt, ù tai hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón; điều kinh bổ huyết.

13. Cách dùng, liều lượng:

12-20g một ngày, dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu bổ. Trước khi dùng phải chế biến, phụ liệu chính là đậu đen.

14. Bài thuốc:

14.1. Chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, và hồi hộp chóng mặt, ù tai, hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón, dùng Hà thủ ô chế, Sinh địa, Huyền sâm, mỗi vị 20g sắc uống.

14.2. Chữa người già xơ cứng mạch máu, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con, dùng Hà thủ ô 20g, Tầm gửi Dâu, Kỷ tử, Ngưu tất đều 16g sắc uống.

14.3. Bổ khí huyết, mạnh gân cốt, Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.

14.4. Chữa đái dắt buốt, đái ra máu (Bệnh lao lâm), dùng lá Hà thủ ô, lá Huyết dụ bằng nhau sắc rồi hoà thêm mật vào uống.

14.5. Điều kinh bổ huyết: Hà thủ ô (rễ, lá) 1 rổ lớn, Đậu đen 1/2kg. Hai thứ giã nát, đổ ngập nước, nấu nhừ, lấy vải mỏng lọc nước cốt, nấu thành cao, thêm 1/2 lít mật ong, nấu lại thành cao, để trong thố đậy kín, mỗi lần dùng 1 muỗng canh, dùng được lâu mới công hiệu.

Kiêng kỵ:Uống Hà thủ ô thì kiêng ăn hành, tỏi, cải củ. Đối với người có áp huyết thấp và đường huyết thấp thì kiêng dùng.

Ghi chú: Hà thủ ô trắng là rễ củ của cây Hà thủ ô trắng, còn gọi là Dây sữa bò (Streptocaulon juventas Merr.), họ Thiên lý (Asclepiadaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta. Các lương y dùng Hà thủ ô trắng làm thuốc bổ máu, bổ can thận

 

Công dụng của KIM TIỀN THẢO (Herba Desmodii)

KIM TIỀN THẢO (Herba Desmodii)

 

 

1. Tên khoa học: Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.

2. Họ:  Đậu (Fabaceae).

3. Tên khác: Đồng tiền lông, Mắt trâu, Vảy rồng, Dây sâm lông, Bươm bướm, Cỏ Đồng tiền vàng (Gold Money Herb), Cat’s foot, maiden-hair, ground ivy (Anh); Herbe de St-Jean, couronne de terre, lierre terrestre, rondette (Pháp).4. Mô tả:

Cây: Cây nhỏ cao 40-80cm, mọc bò. Thân rạp xuống, đâm rễ ở gốc rồi mọc đứng. Cành non hình trụ, khía vằn và có lông nhung màu gỉ sắt. Lá mọc so le gồm một hoặc ba lá chét, dài 2,5-4,5cm, rộng 2-4cm, lá chét giữa hình mắt chim, các lá chét bên hình bầu dục, mắt chim; mặt trên lá màu lục lờ và nhẵn, mặt dưới có lông trắng bạc và mềm. Cụm hoa chùm hay chùy ở nách hay ở ngọn, có lông mềm màu hung hung, thường có lá ở gốc các hoa. Hoa màu hồng, xếp 2-3 cái một. Quả thõng, hơi cong hình cung, có ba đốt. Ra hoa tháng 6-9, kết quả tháng 9-10.

Dược liệu: có thân hình trụ, dài đến 1 m, phủ đầy lông mềm, ngắn, màu vàng. Chất hơi giòn, mặt bẻ lởm chởm. Lá mọc so le, 1 – 3 lá chét, tròn hoặc thuôn, đường kính 2 – 4 cm, đỉnh tròn, tù, đáy hình tim hoặc tù, mép nguyên, mặt trên màu lục hơi vàng hoặc màu lục xám, nhẵn, mặt dưới hơi trắng, có lông; gân bên hình lông chim; cuống dài từ 1 – 2 cm, 2 lá kèm hình mũi mác dài khoảng 8 mm. Mùi hơi thơm, vị hơi ngọt.

5. Phân bố:

Cây mọc ở một số tỉnh miền núi nước ta: Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội, Lạng Sơn, Ninh Bình, Quảng Ninh… 

6. Trồng trọt:

Có khả năng phát triển trồng ở các vùng chuyên canh

7. Bộ phận dùng:

Thân, cành mang lá đã phơi khô của cây Kim tiền thảo (Herba Desmodii).

8. Thu hái, chế biến:

Thu hoạch vào mùa hạ, mùa thu,  rửa sạch dược liệu, loại bỏ tạp chất, cắt đoạn, phơi khô.

9. Tác dụng dược lý:

Các nghiên cứu dược lý hiện đại cho biết Kim tiền thảo có tác dụng: Lợi tiểu, lợi mật; Kháng sinh; Kháng viêm; Dãn mạch, hạ huyết áp.

10. Thành phần hoá học:

Kim tiền thảo có chứa polysaccharid, saponin triterpenic, các flavonoid như isovitexin, vicenin glycosid, isoorientin,… và các chất khác như desmodimin, desmodilacton, lupenon, lupcol, tritriacontan, acid stearic,…

11. Công năng:

Thanh nhiệt, trừ thấp, lợi tiểu.

12. Công dụng:

Chữa sỏi thận, sỏi túi mật, sỏi bàng quang, phù thũng, đái buốt, đái rắt, ung nhọt, tiểu tiện đau rít, phù thũng tiểu ít, hoàng đản tiểu đỏ.

13. Cách dùng, liều lượng:

Ngày dùng 10 – 30g, dạng thuốc sắc.

14. Bài thuốc:

14.1. Trị sạn đường mật:

Sao Chỉ xác 10 – 15g, Xuyên luyện tử 10g, Hoàng tinh 10g, Kim tiền thảo 30g, Sinh Địa hoàng 6 – 10g (cho sau) sắc uống.

Kim tiền thảo 30g, Xuyên phá thạch 15g, Trần bì 30g, Uất kim 12g, Xuyên quân 10g (cho sau) sắc uống.

Bệnh viện Ngoại khoa thuộc Viện nghiên cứu Trung y Trung quốc đã công bố 4 ca sạn gan mật trị bằng Kim tiền thảo kết quả tốt (Tạp chí Trung y 1958,11:749).
Đồng tiền lông 20g, Rau má tươi 20g, Nghệ vàng 8g, Cỏ xước 20g, Hoạt thạch, Vảy tê tê, Củ gấu đều 12g, Mề gà 6g, Hải tảo 8g, nước 500ml sắc còn 200ml uống một lần lúc đói hoặc sắc 2 nước chia 2 lần uống trong ngày.

14.2. Trị sạn tiết niệu:

Kim tiền thảo 30 – 60g, Hải kim sa 15g (gói vải), Đông quì tử 15g, Xuyên phá thạch 15g, Hoài Ngưu tất 12g, Hoạt thạch 15g, sắc uống.

Kim tiền thảo 30g, Xa tiền tử 15g (bọc vải), Chích Sơn giáp, Thanh bì, Ô dược, Đào nhân đều 10g, Xuyên Ngưu tất 12g, sắc uống.

Hoàng kỳ 20g, Đảng sâm 15g, Bạch truật 10g, Phục linh 30g, Kim tiền thảo 15g, Uy linh tiên 12g, Nội kim 10g, Chỉ xác sao 10g, sắc uống.

Hoàng kỳ 30g, Hoàng tinh 15g, Hoài Ngưu tất 15g, Kim tiền thảo 20g, Hải kim sa 15g (gói vải), Xuyên phá thạch, Vương bất lưu hành đều 15g sắc uống. Trị chứng thận hư thấp nhiệt có sạn.

Có thể dùng độc vị Kim tiền thảo sắc uống thay nước chè để tống sỏi.

14.3. Trị bệnh trĩ: mỗi ngày dùng toàn cây Kim tiền thảo tươi 100g (nếu khô 50g) sắc uống. Nghiêm tư Khôn đã theo dõi trên 30 ca sau khi uống thuốc 1 – 3 thang hết sưng đau, đối với trĩ nội ngoại đều có kết quả tốt. (Tạp chí Bệnh Hậu môn đường ruột Trung quốc 1986,2:48).

14.4. Chữa viêm thận, phù, viêm gan, viêm túi mật: Kim tiền thảo 40g; Mộc thông, Ngưu tất mỗi vị 20g; Dành dành, chút chít, mỗi vị 10g, sắc uống, ngày một thang.Ghi chú: Trên thị trường hiện nay nhiều chế phẩm Đông dược dùng chữa sỏi thận trong thành phần có Kim tiền thảo.

 

Theo hocvienquany.vn